Luật Kinh doanh bất động sản 2014 ra đời thay thế Luật Kinh doanh bất động sản 2006, trong đó đã có nhiều sửa đổi, và bổ sung những vấn đề mới đáng lưu ý và phù hợp với thực tiễn hoạt động kinh doanh bất động sản tại Việt Nam trong thời gian gần đây. Đặc biệt, Luật đã sửa đổi và bổ sung những vấn đề liên quan đến kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai, đây là một vấn đề khá mới và nổi bật của Luật Kinh doanh bất động sản 2014.
Thứ nhất, bất động sản hình thành trong tương lai được bổ sung vào các loại bất động sản được đưa vào kinh doanh. Đây là một trong những điểm mới quan trong của Luật Kinh doanh bất động sản 2014, cụ thể Điều 5 quy định: “Nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai của tổ chức cá nhân là một trong những loại bất động sản được đưa vào kinh doanh.”
Thứ hai, quy định về điều kiện của bất động sản hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh theo khoản 1 Điều 55 Luật Kinh doanh bất động sản 2014, cụ thể điều kiện là : Phải có giấy tờ về quyền sử dụng đất, hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Giấy phép xây dựng đối với trường hợp phải có Giấy phép xây dựng, giấy tờ về nghiệm thu việc hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương ứng theo dự án.
Trường hợp đối với bất động sản hình thành trong tương lai là chung cư, tòa nhà hỗn hợp có mục đích để ở thì phải có biên bản nghiệm thu đã hoàn thành xong phần móng của tòa nhà đó.
Thứ ba, phải thực hiện bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai. Có thể nói đây là một trong những điểm mới nổi bật về vấn đề kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai của Luật Kinh doanh bất động sản 2014. Nội dung về bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai quy định tại Điều 57 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 như sau:
Nhà ở hình thành trong tương lai trước khi bán, cho thuê mua thì phải được sự bảo lãnh của ngân hàng có đủ năng lực thực hiện bảo lãnh nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư đối với khách hàng trong trường hợp chủ đầu tư không bàn giao nhà ở theo đúng tiến độ đã cam kết với khách hàng; danh sách ngân hàng thương mại có đủ năng lực thực hiện bảo lãnh sẽ do ngân hàng Nhà nước công bố.
Giữa ngân hàng bảo lãnh và chủ đầu tư phải thực hiện thành lập hợp đồng bảo lãnh, và chủ đầu tư phải có trách nhiệm gửi bản sao hợp đồng bảo lãnh cho bên mua, bên thuê mua khi ký kết hợp đồng mua, thuê mua. Thời hạn của hợp đồng bảo lãnh là khi nhà ở được giao cho bên mua, bên thuê mua; Trường hợp chủ đầu tư không giao đúng nhà ở theo tiến độ cam kết, bên mua, thuê mua có yêu cầu thì bên ngân hàng bảo lãnh phải có trách nhiệm hoàn lại số tiền ứng trước và các khoản tiền khác cho khách hàng theo hợp đồng mua bán, thuê mua nhà và hợp đồng bảo lãnh.
Thứ tư, Luật Kinh doanh bất động sản 2014 cũng quy định tương đối chi tiết về việc thanh toán trong mua bán, thuê mua bất động sản hình thành trong tương lai. Cụ thể :
Bên mua, thuê mua thực hiện thanh toán nhiều lần, lần đầu không quá 30% giá trị hợp đồng; việc thanh toán những lần tiếp theo phải phù hợp vào tiến độ xây dựng song không quá 70% giá trị hợp đồng khi chưa bàn giao nhà, công trình xây dựng; trường hợp bên bán , bên cho thuê mua là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì tổng số thanh toán không quá 50% giá trị hợp đồng.
Trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì không được thu quá 95% giá trị hợp đồng. Giá trị còn lại được thanh toán khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Có thể nói, Luật Kinh doanh bất động sản 2014 đã có nhều quy định mới và tích cực về vấn đề kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai, đây là một vấn đề khá mới và khá “nóng” đối trong hoạt động kinh doanh bất động sản trong những năm gần đây.
(Sưu tầm)
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường cùng với hành lang pháp lý rộng mở, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển thuận lợi, tuy nhiên sự phát triển của doanh nghiệp vẫn nằm trong khuôn khổ pháp lý chịu sự quản lý của Nhà nước và sự tác động của nhiều yếu tố trong quá trình hoạt động. Một số vấn đề mà doanh nghiệp quan tâm hiện nay trong quá trình hoạt động của mình có thể nói đến là:
* Lựa chọn mô hình công ty phù hợp với định hướng, mục tiêu và tình hình thực tế.
Việc lựa chọn mô hình công ty là một việc quan trọng vì điều này thể hiện sự định hướng của người thành lập doanh nghiệp cũng như căn cứ vào tình hình thực tế của họ khi quyết định đầu tư kinh doanh. Khi lựa chọn mô hình doanh nghiệp chính là một trong những yếu tố cơ bản về xác lập quy chế pháp lý đặc thù của mô hình doanh nghiệp đó. Trong đó có các vấn đề pháp lý cơ bản, quan trọng cần lưu ý gồm: các chế độ trách nhiệm quản lý tài sản, vốn, cơ cấu bộ máy tổ chức, phân chia lợi ích trong công ty.
Điều này có thể thấy rõ như sau: Chẳng hạn, ban đầu lúc thành lập doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp thường quan tâm nhiều đến vấn đề huy động vốn, dễ dàng tham gia đấu thầu và vấn đề lợi nhuận nên hay nhận định mô hình công ty cổ phần là phù hợp. Nhưng thực tế, với tình hình thực tế lúc ban đầu đối với một doanh nghiệp, mô hình này có nhiều hạn chế so với công ty trách nhiệm hữu hạn. Bởi lẽ trong công ty cổ phần, sau ba năm thành lập, sự chuyển nhượng cổ phần diễn ra dễ dàng, việc quản lý và điều hành công ty cổ phần lại rất phức tạp do số lượng các cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi ích. Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loại hình công ty khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tài chính, kế toán doanh nghiệp. Còn với mô hình trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp sẽ ổn định và có thể thay đổi loại hình kinh doanh phù hợp khi công ty đã phát triển.
* Thống nhất các thỏa thuận khi thành lâp doanh nghiệp và việc giải quyết các xung đột giữa các thành viên, cổ đông góp vốn trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Sự đổi mới của pháp luật, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp thành lập và đi vào hoạt động tuy nhiên chính vì sự thuận lợi, đơn giản về mặt thủ tục đó, một số bộ phận vẫn coi việc thành lập công ty chỉ là các thỏa thuận với nhau, cùng đưa ra các ý tưởng và điều kiện kinh doanh với nhau như việc tự do thỏa thuận làm ăn nhỏ lẻ thông thường. Các thỏa thuận của các thành viên lúc này là thỏa thuận dân sự và thường sơ sài nên khi xảy ra các xung đột liên quan đến việc góp vốn, sử dụng vốn, quyền sở hữu tài sản, phân chia lợi ích… sẽ không có cơ sở để giải quyết.
Dưới góc độ pháp lý đã thành lập công ty, tức là đã trở thành tổ chức kinh tế, tham gia vào quan hệ pháp luật kinh tế, chịu sự điều chỉnh và phải tuân theo đúng pháp luật trong quá trình hoạt động. Vì vậy, các thành viên, các cổ đông góp vốn sẽ phải tìm hiểu về các điều khoản hợp tác, phương pháp hợp tác kinh doanh, nắm bắt được các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật như vậy mới có thể giải quyết khi công ty có sự cố.
Khi doanh nghiệp đi vào hoạt động và bắt đầu mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, nếu không có sự thống nhất, chặt chẽ trong việc quản lý doanh nghiệp sẽ xuất hiện các tranh chấp, xung đột giữa các thành viên, cổ đông góp vốn. Vì vậy để tránh tình trạng này xảy ra, các thành viên, cổ đông sáng lập cần có những thỏa thuận rõ ràng ngay khi thành lập doanh nghiệp và đưa vào điều lệ công ty, các nghị quyết hay biên bản thỏa thuận để đảm bảo môi trường hợp tác kinh doanh lành mạnh của doanh nghiệp.
* Chuẩn bị các điều kiện đủ để doanh nghiệp phát triển.
Giai đoạn thành lập doanh nghiệp và kiến tạo các giá trị vật chất cơ bản ban đầu chính là việc chuẩn bị các điều kiện cần để doanh nghiệp ra đời. Ở thời điểm ban đầu này, các doanh nghiệp vừa đi vào hoạt động nên quan tâm hàng đầu đến yếu tố lợi nhuận mà quên mất những điều kiện đủ về mặt pháp lý và liên quan để phục vụ quá trình hoạt động của doanh nghiệp một cách thuận lợi. Chỉ đến khi xuất hiện đối tác, khách hàng có điều kiện yêu cầu thì lúc này doanh nghiệp mới gấp rút thực hiện để tìm cách đáp ứng, giải quyết. Nhiều khi gặp những trường hợp doanh nghiệp rơi vào khó khăn khi giải quyết nhanh, tốn kém về chi phí và từ đó có thể mất đi những cơ hội làm ăn lớn vì không đáp ứng được hoặc đáp ứng chậm yêu cầu của khách hàng.
Chính vì lẽ đó, việc chuẩn bị các giấy tờ pháp lý có liên quan là điều kiện cần thiết, vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp khi bắt đầu đi vào hoạt động. Trong kinh doanh, cần chuẩn bị các giấy tờ liên quan đến ngành nghề, vốn, đáp ứng một hoặc nhiều điều kiện kinh doanh. Đối với một số lĩnh vực kinh doanh, các giấy phép chuyên ngành phải có sự chấp thuận của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền là điều kiện bắt buộc để hoạt động.
* Tranh chấp hợp đồng kinh tế.
Khi ký kết hợp đồng kinh tế với đối tác, phần lớn các doanh nghiệp thường chú ý đến các điều khoản về thương mại như: giá cả, phương thức, lộ trình thanh toán, hàng hóa… mà không quan tâm nhiều đến các điều khoản pháp lý như các cam kết, quyền và nghĩa vụ của các bên, biện pháp chế tài, phương án xử lý khi có vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng. Điều này dẫn đến việc khi xảy ra tranh chấp, các doanh nghiệp thường bị thiệt hại. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần có bộ phận phụ trách pháp chế, soạn thảo các bản hợp đồng với các điều khoản chặt chẽ để sử dụng trong đàm phán, ký kết với đối tác nhằm nắm thế chủ động trong giao dịch, tránh được các thiệt hại khi giao kết hợp đồng vơi khách hàng và đối tác.
* Doanh nghiệp phải thực hiện các quy định về thuế, kế toán doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp sau khi thành lập sẽ phát sinh nghĩa vụ thuế đối với doanh nghiệp đó và nghĩa vụ này được quy định theo luật quản lý thuế và các văn bản pháp luật thuế có liên quan. Nghĩa vụ về thuế phải thực hiện đúng quy định một cách chính xác, đầy đủ và đúng thời hạn. Từ thời điểm thành lập doanh nghiệp, cần chú ý kê khai thuế ban đầu, xem xét việc kê khai và đóng các loại thuế tùy theo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Có ba loại thuế cơ bản đối với doanh nghiệp là: thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp, ngoài ra trong quá trình hoạt động, kinh doanh doanh nghiệp phát sinh tùy từng lĩnh vực hoạt động, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thì còn có các loại thuế khác như: tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường, thuế xuất – nhập khẩu… Việc không nộp, chậm nộp, kê khai thuế không đúng là những rắc rối dẫn đến vướng mắc và thiệt hại cho doanh nghiệp nếu không biết cách xử lý hoặc xử lý muộn.
* Huy động vốn đầu tư.
Một trong những cách nhanh nhất để phát triển nguồn lực là tiếp nhận nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức, cá nhân thông qua phương thức huy động. Các nhà đầu tư tự do và các quỹ đầu tư thường quan tâm đến tiềm năng của dự án, tính cam kết của đội ngũ và các yếu tố cấu thành sự thành công của dự án. Tuy nhiên, vấn đề hồ sơ pháp lý và việc tuân thủ các quy định pháp luật cũng là điều cần lưu tâm nếu muốn các giao dịch thành công. Doanh nghiệp nên phân bổ nguồn lực để tìm hiểu pháp luật và nắm bắt các thay đổi của luật pháp trong kinh doanh để tránh những rủi ro pháp lý tiềm ẩn có thể xảy ra và gây hậu quả nghiêm trọng cho doanh nghiệp.
* Vấn đề quyền sở hữu trí tuệ.
Một vấn đề nữa đó là, khi mọi hoạt động của doanh nghiệp đã đi vào thuận lợi. Các ý tưởng về sản phẩm, dịch vụ độc đáo và khác biệt sẽ tiếp cận thị trường nhanh chóng và việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm, dịch vụ đó cần bắt đầu ngay khi triển khai dự án hoặc ngay sau khi doanh nghiệp được thành lập. Trên thị trường có nhiều trường hợp hành hóa của công ty này bị làm giả bởi công ty khác bằng cách sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm gây thiệt hại và ảnh hưởng đến uy tín và kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì vậy doanh nghiệp nên chú trọng việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ vì điều này không chỉ đảm bảo cho doanh nghiệp độc quyền sử dụng tài sản của mình mà còn là cơ sở để thực hiện việc khiếu nại, khiếu kiện khi cần thiết nhằm đảm bảo quyền lợi tối đa cho doanh nghiệp.
Trên đây là một số các vấn đề cơ bản liên quan đến quá trình thành lập và đi vào hoạt động của doanh nghiệp mà doanh nghiệp cần nắm được để thuận lợi phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.Nắm được những vấn đề cơ bản này sẽ góp một phần giúp giành được thế chủ động cũng như tránh được các rủi ro thường gặp trong quá trình kinh doanh./.
Các doanh nghiệp mới thành lập thường loay hoay trước các quy định về thuế và ưu đãi thuế. Bên cạnh nghĩa vụ thực hiện các loại thuế cơ bản như: thuế môn bài, thuế thu nhập thì thuế giá trị gia tăng cũng là một loại thế rất cơ bản và quen thuộc đối với doanh nghiệp.
Theo quy định mới nhất của pháp luật về thuế giá trị gia tăng, các đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng theo luật thuế Giá trị gia tăng và Thông tư 219/2013/TT-BTC, được cập nhật, sửa đổi, bổ sung theo Thông tư 26/2015/TT-BTC và Thông tư 130/2016/TT – BTC gồm các lĩnh vực kinh doanh, sản xuất sau:
Qua phần trình bày trên đây, có thể thấy doanh nghiệp được ưu đãi thuế giá trị gia tăng ở rất nhiều lĩnh vực. Việc nắm được các quy định về thuế giá trị gia tăng nói chung, các ưu đãi về thuế nói riêng doanh nghiệp sẽ biết rõ hơn về chính sách của Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực nào và thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng để có định hướng chiến lược trong sản xuất kinh doanh và mang lại lợi ích lớn cho nền kinh tế đất nước./.
Cộng đồng doanh nghiệp đang bước sang một giai đoạn phát triển mới, khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng. Quá trình này đã tạo ra cơ hội và cũng không ít thách thức, buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải nỗ lực khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.’’ Nhiều thách thức đang chờ đợi.
Thách thức hội nhập
Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2016 của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) cho thấy, chỉ số cạnh tranh của Việt Nam chỉ ở mức 4,31, xếp hạng 60 trong số 138 quốc gia đánh giá. Chưa so sánh với các khu vực khác trên thế giới, chỉ xét trong khu vực ASEAN cho thấy Việt Nam xếp ở vị trí thấp hơn nhiều khi so với Indonesia (41), Thái Lan xếp (34), Malaysia (25) và Singapore ở vị trí thứ 2. Đáng chú ý, với chỉ số cạnh tranh năm 2016 ở mức 60, Việt Nam đã lùi 4 bậc so với năm 2015.
Việc phân tích thế mạnh và thách thức mà các doanh nghiệp lớn Việt Nam phải đối mặt, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, rất cần thiết, giúp họ nhận thấy những cơ hội và nguy cơ đến từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như những điểm mạnh và điểm yếu nội tại để đưa ra được những chiến lược phù hợp.
Có hàng loạt những thách thức mà các doanh nghiệp phải đương đầu. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, mức độ cạnh tranh quyết liệt hơn, gay gắt hơn với nhiều “đối thủ” mạnh và công cụ, thủ đoạn cạnh tranh cũng đa dạng, phức tạp hơn. Tiếp đó, khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, thách thức về thị trường gay gắt hơn, cùng với đó, những đòi hỏi của thị trường, nhất là ở các nước phát triển, ngày càng chặt chẽ, phải áp dụng nhiều tiêu chuẩn trong nước và quốc tế.
Tiếp đến là những thách thức về công nghệ trong nghiên cứu, phát minh và ứng dụng các công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất, giám sát chất lượng sản phẩm. Hoặc, thị trường biến động rất nhanh, đòi hỏi khả năng thích ứng và linh hoạt của các doanh nghiệp Việt Nam, cùng những biện pháp quản trị rủi ro và phòng ngừa thích hợp.
Chớp cơ hội để phát triển
Bên cạnh những thách thức kể trên, các doanh nghiệp lớn Việt Nam có thể tận dụng được vô số các thuận lợi từ quá trình hội nhập.
Tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới, thị trường được mở rộng, các doanh nghiệp lớn Việt Nam có thể tiếp cận những thị trường còn nhiều tiềm năng với mức thu nhập cao như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc… Bên cạnh đó, các doanh nghiệp lớn Việt Nam có cơ hội tham gia chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất khu vực, chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tích cực, tập trung nhiều hơn vào các mặt hàng chế biến, chế tạo có giá trị và hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao hơn.
Hội nhập còn giúp các doanh nghiệp thu hút vốn đầu tư thông qua thị trường tài chính, qua đó có thể tiếp cận nguồn vốn dồi dào từ bên ngoài. Ngoài hình thức vay vốn nước ngoài, nhiều doanh nghiệp lớn lựa chọn phát hành trái phiếu công ty, hoặc chuyển đổi mô hình kinh doanh để tiếp cận vốn thông qua phát hành cổ phiếu.
Tiếp đó, các doanh nghiệp lớn Việt Nam có cơ hội tiếp thu kỹ năng quản lý tiên tiến trên thế giới, tiếp cận khoa học – công nghệ hiện đại, nhằm nâng cao khả năng sản xuất và chất lượng sản phẩm, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong sân chơi lớn toàn cầu.
Để tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh, các doanh nghiệp lớn của Việt Nam cần nhiều giải pháp, trong đó, nâng cao giá trị gia tăng trong quá trình sản xuất – kinh doanh là yếu tố quyết định để nâng cao năng lực cạnh tranh, giúp doanh nghiệp trụ vững và phát triển.
Doanh nghiệp Việt Nam thường tập trung vào khâu sản xuất, gia công, lắp ráp, ít chú trọng tới dịch vụ, dẫn tới giá trị gia tăng và lợi nhuận thấp. Vì thế, cần chuyển hướng sang khâu nghiên cứu và pháp triển sản phẩm (R&D), marketing và phân phối, phát triển dịch vụ để tạo thêm giá trị gia tăng cho doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp lớn Việt Nam cần tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu với các sản phẩm công nghệ cao, hàm lượng chất xám lớn, tạo nên giá trị gia tăng cao. Ngoài ra, cần nỗ lực nâng cao năng lực, mở rộng sản xuất để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thông qua đó, cải tiến công nghệ, đào tạo nhân lực, củng cố thương hiệu.
Để hoạt động có hiệu quả, mang lại lợi ích cho nền kinh tế, các doanh nghiệp lớn cần phải tự mình khắc phục những yếu điểm nội tại, nâng cao năng lực cạnh tranh. Song song đó, cần phải khẳng định thêm vai trò của quản lý nhà nước với những chính sách hỗ trợ, đầu tư, phát triển hạ tầng… tạo động lực quan trọng giúp các doanh nghiệp lớn Việt Nam tự tin vươn ra biển lớn.
Theo Baodautu.vn
Năng lực cạnh tranh là sức mạnh của doanh nghiệp được thể hiện trên thương trường. Sự tồn tại và sức sống của một doanh nghiệp thể hiện trước hết ở năng lực cạnh tranh. Để từng bước vươn lên giành thế chủ động trong quá trình hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh chính là tiêu chí phấn đấu của các doanh nghiệp Việt Nam.
Trước thời kỳ đổi mới, các khái niệm doanh nghiệp, doanh nhân hầu như không được sử dụng ở nước ta. Trong thời kỳ đổi mới, nhất là khi đất nước thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, các khái niệm doanh nghiệp, doanh nhân ngày càng được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực khoa học, kinh tế… và trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Trong bối cảnh của toàn cầu hóa, khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với các đối thủ mới (các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia có tiềm lực tài chính, công nghệ, kinh nghiệm và năng lực cạnh tranh cao), phải cạnh tranh quyết liệt trong điều kiện mới (thị trường toàn cầu với những nguyên tắc nghiêm ngặt của định chế thương mại và luật pháp quốc tế). Nói cách khác, các doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức thật sự to lớn.
Thứ nhất, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam hiện còn rất hạn chế. Bởi lẽ, đa số các doanh nghiệp đều có quy mô nhỏ và ít vốn. Theo điều tra mới nhất hiện có 51,3% doanh nghiệp có dưới 10 người lao động, 44% doanh nghiệp có từ 10 đến 200 lao động, chỉ có 1,43% doanh nghiệp có từ 200 đến 300 lao động, 42% doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỉ đồng, 37% doanh nghiệp có vốn từ 1 tỉ đến 5 tỉ đồng và chỉ có 8,18% doanh nghiệp có vốn từ 5 tỉ đến 10 tỉ đồng.
Trong điều kiện quy mô doanh nghiệp nhỏ, vốn ít các doanh nghiệp Việt Nam lại gặp một thách thức rất lớn đó là chất lượng nhân lực của doanh nghiệp thấp. Đội ngũ chủ doanh nghiệp, cán bộ quản lý doanh nghiệp còn rất thiếu kiến thức quản trị và kỹ năng kinh nghiệm quản lý. Kết quả điều tra hơn 63.000 doanh nghiệp trên cả nước cho thấy: 43,3% lãnh đạo doanh nghiệp có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông, số chủ doanh nghiệp có trình độ thạc sỹ trở lên chỉ có 2,99%. Có thể nói, đa số các chủ doanh nghiệp và giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo một cách bài bản về kiến thức kinh doanh, quản lý, kinh tế – xã hội, văn hóa, luật pháp… và kỹ năng quản trị kinh doanh, đặc biệt là kỹ năng kinh doanh trong điều kiện hội nhập quốc tế. Điều đó được thể hiện rõ trong việc nhiều doanh nghiệp chưa chấp hành tốt các quy định về thuế, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, chất lượng hàng hóa, sở hữu công nghiệp…
Thứ hai, sự lạc hậu về khoa học – công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nay, đa số các doanh nghiệp nước ta đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới từ 2 đến 3 thế hệ, 76% máy móc, dây chuyền công nghệ được sản xuất từ những năm 1950 – 1960, 75% số thiết bị đã hết khấu hao, 50% số thiết bị là đồ tân trang… Tóm lại, máy móc, thiết bị đang được sử dụng ở các doanh nghiệp Việt Nam chỉ có 10% hiện đại, 38% trung bình và 52% là lạc hậu và rất lạc hậu; tỷ lệ sử dụng công nghệ cao mới chỉ có 2% (tỷ lệ này ở Thái Lan là 31%, Ma-lai-xi-a là 51% và Xin-ga-po là 73%). Trong khi đó, các doanh nghiệp nước ta đầu tư cho đổi mới công nghệ rất thấp, chi phí khoảng 0,2% – 0,3% tổng doanh thu.
Thứ ba, hạn chế về khâu nguyên vật liệu và sự yếu kém về thương hiệu các doanh nghiệp. Đa số các doanh nghiệp Việt Nam phải nhập khẩu nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh. Trong những năm qua, nhiều sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm có sự tăng trưởng cao (hàng da giày, dệt may, chế biến thực phẩm, đồ uống, sản phẩm thép và kim loại màu, sản phẩm nhựa, hàng điện tử, ô tô, xe máy…) đều phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu bán thành phẩm nhập khẩu từ nước ngoài. Trong khi đó, giá cả các loại nguyên vật liệu này trên thế giới có xu hướng gia tăng, làm cho nhiều nhóm sản phẩm có tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu khá cao, chiếm hơn 60% giá thành sản phẩm.
Mặt khác, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa xây dựng được thương hiệu mạnh, chưa khẳng định được uy tín chất lượng và năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế. Trên thực tế, trong nhiều sản phẩm của Việt Nam yếu tố cấu thành của tri thức, công nghệ thấp, trong khi yếu tố sức lao động và nguyên vật liệu cao… Điều đó làm cho sức cạnh tranh thấp, chất lượng sản phẩm không có ưu thế rõ rệt trên thị trường.
Thứ tư, chiến lược phân phối, chiến lược truyền thông và xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế. Đa số các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ nên hạn chế tầm hoạt động và mạng lưới phân phối sản phẩm. Trong khi đó, hoạt động xúc tiến thương mại còn giản đơn, sơ lược và không có hiệu quả thiết thực. Có rất ít doanh nghiệp xây dựng được chương trình xúc tiến, giới thiệu một cách bài bản về sản phẩm cho khách hàng. Hầu hết các doanh nghiệp chưa nhận thức đúng được giá trị và ý nghĩa của xúc tiến thương mại, quảng cáo…Vì vậy, chi phí cho quảng cáo rất thấp, chỉ dưới 1% doanh thu (tỷ lệ này của các doanh nghiệp nước ngoài chiếm khoảng 10% đến 20% doanh thu).
Những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, khi Việt Nam là thành viên của WTO thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh trở thành vấn đề sống còn của các doanh nghiệp.
Một là, nâng cao trình độ học vấn, hiểu biết về kinh tế – xã hội, văn hóa, luật pháp… cho các chủ doanh nghiệp, các bộ quản lý và người lao động trong doanh nghiệp. Như đã nhận xét ở phần trên, hiện còn tới 43,3% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông, số có trình độ thạc sỹ trở lên chỉ chiếm 2,99%. Vì vậy, giáo dục – đào tạo cần trang bị học vấn ở trình độ cử nhân và những tri thức cơ bản về kinh tế – xã hội, văn hóa, pháp luật… cho các chủ doanh nghiệp, giám đốc, cán bộ quản lý doanh nghiệp và những người lao động.
Hai là, tăng cường năng lực của chủ doanh nghiệp, giám đốc và cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp về quản trị kinh doanh, quản trị chiến lược. Trong mọi điều kiện, doanh nhân cần thường xuyên cập nhật tri thức mới, những kỹ năng cần thiết (kỹ năng quản trị trong cạnh tranh, kỹ năng lãnh đạo doanh nghiệp, kỹ năng quản lý sự biến đổi, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng đàm phán và giao tiếp v.v…) để có đủ sức cạnh tranh trên thị trường và tiếp cận nền kinh tế tri thức.
Để có đủ sức cạnh tranh lâu dài và có thể tự tin bước vào kinh tế tri thức, các doanh nghiệp cần phải xây dựng chiến lược phát triển bền vững. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến chiến lược cạnh tranh và những kỹ năng mang tính chiến lược như: Quản trị chiến lược, quản trị rủi ro, và tính nhạy cảm trong quản lý, phân tích kinh doanh, dự báo và định hướng chiến lược phát triển…
Ba là, hiện nay đa số các doanh nghiệp Việt Nam đều có quy mô nhỏ, vốn ít, trình độ học vấn, kiến thức kinh doanh, hiểu biết luật pháp (mà chú trọng là luật pháp quốc tế) không cao, trình độ tay nghề của người lao động thấp… Trong điều kiện này, để thực hiện chiến lược cạnh tranh cần phải và nhất thiết phải thực hiện phương châm liên kết và hợp tác để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Sự liên kết và hợp tác không phải là phép tính cộng tổng số các doanh nghiệp, mà chính là tạo ra sức mạnh bội phần của các nhóm, các tập đoàn kinh tế cùng sản xuất kinh doanh một (hoặc một số) sản phẩm nhất định và cùng thực hiện chiến lược thương hiệu, xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm trên thị trường.
Bốn là, tăng cường sự hỗ trợ của chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước về vốn, cơ chế, chính sách, luật pháp, xúc tiến thương mại, giáo dục – đào tạo, tư vấn về thiết bị, công nghệ hiện đại… cho các doanh nghiệp. Đồng thời, tăng cường hơn nữa vai trò của các hiệp hội, các hội, các câu lạc bộ giám đốc và các tổ chức chuyên môn, nghiệp vụ đối với sự phát triển của các doanh nghiệp.
Năm là, xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa có vai trò quan trọng trong sự phát triển, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế – xã hội. Từ xưa, cha ông ta đã đúc kết: “Phi trí bất hưng, phi thương bất phú, phi công bất hoạt”. Ngày nay, trong xã hội hiện đại, quan niệm về giá trị, về lao động sáng tạo, ý thức cạnh tranh, ý chí làm giàu, sự tín nhiệm xã hội… có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh và xây dựng văn hóa doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp, nói một cách khái quát là “đạo làm giàu”, tức là làm giàu một cách có văn hóa: Làm giàu cho bản thân, làm giàu cho doanh nghiệp, làm giàu cho xã hội và cho đất nước. Sự giàu có về trí tuệ, về của cải và tính năng động sáng tạo là những giá trị xã hội mà mỗi doanh nhân, mỗi doanh nghiệp phải có. Vì vậy, xây dựng văn hóa doanh nghiệp tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh, tích cực luôn là động lực thúc đẩy sức sáng tạo và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp./.
Sưu tầm.
Chủ trương của Đại hội Đảng lần thứ XI đánh dấu giai đoạn mới của hội nhập quốc tế nước ta nhằm phục vụ phát triển và nâng cao vị thế đất nước, triển khai đường lối đối ngoại. Xuất phát từ xu thế khách quan và nhằm đáp ứng nhu cầu mới của đất nước, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới đối với các cơ quan, hiệp hội, địa phương và doanh nghiệp nước ta. Do đó, vấn đề cần thiết là nhận thức đầy đủ hơn tính tất yếu của hội nhập, liên kết quốc tế, nội dung hội nhập trong thời kỳ mới, cũng như thời cơ và thách thức. Từ đó, xác định các giải pháp để tham gia, đóng góp đối với tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước.
I. Đặc điểm của hội nhập quốc tế nước ta giai đoạn mới
1.1. Hội nhập quốc tế của nước ta trong giai đoạn mới diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế và nước ta hiện nay hoàn toàn khác trước, kể cả giai đoạn từ khi nước ta gia nhập WTO năm 2007 đến nay.
Cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu 2008 – 2009 đã thúc đẩy nhanh những chuyển dịch trên phạm vi toàn cầu cũng như ở từng nước, từng khu vực tạo nên tương quan sức mạnh kinh tế giữa các trung tâm. Xu hướng đa trung tâm, đa tầng nấc đang ngày càng được khẳng định. Nền tảng kinh tế thế giới có những chuyển dịch căn bản, toàn cầu hóa và công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ.
Xu hướng hội nhập, liên kết kinh tế đa tầng nấc, đặc biệt là các hiệp định thương mại tự do (FTA), gia tăng mạnh. Nổi bật là các hiệp định FTA thế hệ mới phát triển nhanh hơn, ngày càng sâu rộng, gắn kết với phát triển bền vững và ứng phó với các thách thức toàn cầu. Châu Á – Thái Bình Dương đóng vai trò đầu tàu trong tăng trưởng và liên kết toàn cầu. Hàng loạt các đàm phán FTA thế hệ mới tạo ra những bước ngoặt trong liên kết kinh tế ở hầu khắp các khu vực, tiêu biểu là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) kết thúc đàm phán 10/2015, Hiệp định đối tác thương mại – đầu tư xuyên Đại Tây Dương Hoa Kỳ – EU (TTIP), Khuôn khổ đối tác kinh tế khu vực toàn diện (RCEP) đều dự kiến kết thúc vào năm 2016.
1.2. Với những thành tựu của 30 năm đổi mới và chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập quốc tế trở thành nhân tố quan trọng hơn bao giờ hết để tạo thế và lực của đất nước trong cục diện đang định hình. Do đó, hội nhập quốc tế đang đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới.
Trước hết, khác với các giai đoạn trước, hội nhập quốc tế giai đoạn hiện nay đòi hỏi đổi mới tư duy, chuyển từ “mở rộng quan hệ, gia nhập và tham gia hợp tác quốc tế” sang “chủ động đóng góp, tích cực khởi xướng và tham gia định hình các cơ chế hợp tác”. Với tầm và quy mô hội nhập hiện nay, các mối quan hệ kinh tế quốc tế của nước ta không đơn thuần là “hội nhập” mà ở tầm “liên kết”.
Đoàn Việt Nam tháp tùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tham dự HNCC ASEM 10, Milan, Italy, ngày 16 – 17/10/2014
Thứ hai, cần tăng cường cách tiếp cận đa ngành, liên ngành và đa phương. Đây là xu thế khách quan trong bối cảnh toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, các nội hàm liên kết trở nên sâu rộng hơn, với nhiều đối tác hơn, mang tính liên ngành, đa lĩnh vực, đa tầng nấc, ở mọi cấp độ tiểu vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu.
Thứ ba, phát triển bền vững, sáng tạo và ứng phó với các thách thức toàn cầu là nội hàm quan trọng của hội nhập quốc tế. Điều này là phù hợp với xu thế chuyển đổi sang mô hình bền vững và sáng tạo, tăng trưởng xanh, từ tư duy kinh tế, tư duy phát triển, cách tiếp cận đến cách thức quản trị kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh trên mọi tầng nấc.
Thứ tư, để có thể tận dụng cơ hội, tiềm năng của liên kết quốc tế về công nghệ, quản lý, nguồn lực và tham gia vào tầng nấc cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, cần có sự đột phá trong cải cách, đổi mới trong nước, nhất là về thể chế, khuôn khổ pháp lý, năng lực thực thi hội nhập quốc tế, trình độ, kỹ năng, ngoại ngữ của nguồn nhân lực. Cùng với đó là việc hình thành các chính sách tham gia hội nhập, liên kết quốc tế trong từng lĩnh vực và thiết lập các cơ chế chỉ đạo, phối hợp phù hợp với tình hình mới.
1.3. Theo đó, hội nhập quốc tế nước ta trong 5 – 10 năm tới sẽ tập trung vào các trọng tâm sau, trong đó 2015 và 2018 là những giai đoạn quan trọng:
Nỗ lực hoàn tất các cam kết quốc tế lớn có thời hạn vào 2015 – 2020 nhằm nâng tầm hội nhập quốc tế, trong đó ưu tiên: (i) Cam kết xây dựng Cộng đồng ASEAN, Tầm nhìn ASEAN đến năm 2025; (ii) Cam kết gia nhập WTO (thời hạn 31/12/2018), các Mục tiêu Bô-go của APEC về tự do hóa thương mại và đầu tư vào năm 2020…
Hoàn tất đàm phán và thực thi các Hiệp định FTA, trong đó thúc đẩy sớm ký kết, phê chuẩn và thực thi TPP, các FTA với Liên minh Kinh tế Á – Âu, EU và Hàn Quốc; hoàn tất đàm phán RCEP và FTA với Khối thương mại tự do châu Âu (EFTA); các cam kết trong 8 FTA đã ký… Các FTA của ASEAN (AFTA), ASEAN với Trung Quốc, Hàn Quốc có thời hạn cắt giảm thuế năm 2018.
Nâng tầm hội nhập quốc tế trên các tầng nấc, cơ chế liên kết theo hướng đẩy mạnh chủ động đóng góp, tiếp cận đa ngành, đa phương, đề cao nội hàm phát triển, nhất là trong các khuôn khổ đa phương và trong các vấn đề mà ta quan tâm, có lợi ích như đối tác phát triển, giảm nghèo, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, an ninh hàng hải…
Nỗ lực tạo đột phá trong vận động các đối tác, nhất là các đối tác lớn, sớm công nhận quy chế kinh tế thị trường của ta trước thời hạn 2018 (là thời điểm kinh tế nước ta được công nhận là nền kinh tế thị trường theo thỏa thuận gia nhập WTO). Xử lý hiệu quả tranh chấp, vướng mắc kinh tế, thương mại nhằm bảo đảm lợi ích của người lao động và doanh nghiệp.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng chủ trì buổi làm việc với Bộ trưởng Hợp tác phát triển quốc tế Phần Lan Heidi Hautala ngày 24/01/2013
II. Thời cơ và thách thức của hội nhập quốc tế giai đoạn mới
2.1. Thời cơ và thuận lợi
Với triển vọng hoàn tất đàm phán và triển khai Hiệp định FTA trong giai đoạn đến năm 2020, lần đầu tiên nước ta sẽ trở thành một mắt xích quan trọng của mạng lưới liên kết kinh tế rất rộng lớn với tất cả các trung tâm và các nền kinh tế hàng đầu thế giới. Các địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp Việt Nam đứng trước những thuận lợi lớn chưa từng có để mở rộng thị trường xuất khẩu, với tư cách là một đối tác bình đẳng, không bị phân biệt đối xử, theo mức thuế ưu đãi, thậm chí là 0%, với 56 đối tác mà ta có hiệp định FTA. Ðây là những yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa, dịch vụ của nước ta, tạo thêm việc làm, góp phần tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Hội nhập quốc tế sâu rộng, tạo động lực mới để thúc đẩy đổi mới, hoàn thiện môi trường pháp lý, thể chế kinh tế thị trường, cải cách hành chính, chính sách kinh tế, cơ chế quản lý trong nước ngày càng minh bạch hơn, làm thông thoáng môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước, thúc đẩy mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt là các công ty xuyên quốc gia có tiềm lực tài chính lớn, công nghệ cao, trình độ quản lý tiên tiến.
Hội nhập quốc tế sâu rộng tạo thời cơ, thuận lợi mới để triển khai chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện, làm sâu sắc và nâng tầm các quan hệ đối tác, tạo thế đan xen lợi ích dài hạn với tất cả các trung tâm kinh tế – chính trị hàng đầu thế giới, đem lại thế và lực mới cho đất nước, củng cố môi trường hòa bình, ổn định.
Với chủ trương “chủ động đóng góp, tích cực khởi xướng và tham gia định hình các cơ chế hợp tác”, nước ta có điều kiện cùng các nước hoạch định các chính sách toàn cầu, nhất là về kinh tế, thương mại, thúc đẩy hình thành một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, trong đó có điều kiện thuận lợi để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp Việt Nam trong tranh chấp thương mại quốc tế.
Các hiệp hội và doanh nghiệp trong nước có điều kiện thuận lợi hơn để tiếp cận nguồn nguyên liệu đầu vào với giá cạnh tranh hơn, dịch vụ hỗ trợ tiện lợi hơn, chất lượng cao hơn, tiết kiệm chi phí sản xuất…, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh. Người dân trong nước có thêm nhiều sự lựa chọn phong phú về hàng hóa, dịch vụ với chất lượng cao và giá cả cạnh tranh.
2.2. Thách thức và khó khăn
Thách thức lớn và trực diện nhất là sức ép cạnh tranh gay gắt hơn trên cả ba cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia. Các sản phẩm và doanh nghiệp của ta sẽ phải cạnh tranh với sản phẩm và doanh nghiệp nước ngoài không chỉ trên thị trường quốc tế mà ngay trên thị trường nội địa. Chính phủ ta phải cạnh tranh với chính phủ các nước trong cải thiện môi trường thu hút đầu tư, nguồn nhân lực… Các lĩnh vực kinh tế vốn được bảo hộ bị thách thức gay gắt do việc cắt giảm thuế quan, như ngành sản xuất ô-tô, mía đường, gạo, xăng dầu…
Các Bộ, ngành, hiệp hội và doanh nghiệp đứng trước đòi hỏi phải hiểu biết nhiều và vận dụng hiệu quả các luật lệ, quy định kinh tế, thương mại cũng như văn hóa kinh doanh của nhiều nước và nhiều thị trường hơn trước, đặc biệt trong trường hợp xảy ra tranh chấp thương mại. Các FTA mới đòi hỏi phải điều chỉnh luật lệ, chính sách không chỉ về kinh tế, thương mại mà cả các vấn đề phi thương mại, như quyền của người lao động, tiêu chuẩn lao động, tự do hiệp hội – công đoàn, môi trường, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ…
Lễ kỷ niệm 20 năm Việt Nam tham gia ASEAN, Hà Nội , ngày 28/7/2015
Với xu thế chuyển dịch lao động giữa các nước tham gia FTA, thách thức đối với các cơ quan, doanh nghiệp, hiệp hội, người lao động trong nước là sức ép về trình độ, tri thức và tay nghề, nguy cơ tranh chấp quốc tế (các FTA mới có quy định cao về giải quyết tranh chấp)… Trong khi lực lượng lao động nước ta chưa qua đào tạo còn chiếm tỉ trọng lớn, số lao động có trình độ chuyên môn và tay nghề cao còn thiếu; Đội ngũ cán bộ, công chức nước ta thiếu và hạn chế về năng lực hội nhập; thiếu đội ngũ luật sư giỏi để giải quyết các tranh chấp thương mại và tư vấn cho các doanh nghiệp.
Hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, những biến động trên thị trường tài chính, tiền tệ, thị trường hàng hóa quốc tế, xung đột, tranh chấp sẽ tác động nhanh hơn, mạnh hơn đến nền kinh tế nước ta, ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định và phát triển bền vững của ta; thách thức về bảo đảm an ninh, giữ gìn bản sắc dân tộc, sự phát triển không đều…
Những yếu kém, bất cập trong nước bộc lộ rõ hơn và nếu không được xử lý kịp thời và thỏa đáng thì sẽ làm gia tăng nguy cơ tụt hậu của nước ta. Chuyển biến trong tư duy trong nước chưa kịp với tình hình quốc tế và tốc độ hội nhập quốc tế của nước ta. Khu vực tư nhân còn manh mún, quy mô nhỏ, thiếu nguồn vốn, công nghệ, kỹ năng quản trị… Các hiệp hội, địa phương và doanh nghiệp hiểu và tham gia hội nhập rất hạn chế, thụ động. Cơ chế điều phối còn bất cập.
III. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế và tham gia các FTA
Đổi mới cách nghĩ, cách làm trong tham gia các hoạt động hội nhập, liên kết quốc tế theo hướng “chủ động tham gia, tích cực đề xuất và đóng góp”. Tư duy mới là nâng lên tầm khu vực và toàn cầu – đó là tư duy của một Cộng đồng ASEAN 600 triệu dân, một thị trường, không gian kinh tế rộng lớn của 56 đối tác FTA đại diện 65% dân số, 95% GDP và 84% thương mại thế giới. Cách làm mới là liên kết, hợp tác liên ngành, đa ngành và đa phương, bền vững, nhằm phát huy lợi thế cạnh tranh của địa phương, doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh gay gắt với các đối tác lớn, mạnh hơn.
Đẩy mạnh phổ biến nội dung các cam kết hội nhập của ta, nhất là các hiệp định FTA, chính sách, biện pháp cụ thể để tận dụng thời cơ, xử lý thách thức của hội nhập.
Hoàn thiện thể chế pháp lý hướng tới hài hòa hóa chính sách với các cam kết quốc tế; hình thành các chiến lược lớn về hội nhập quốc tế, tham gia FTA; rà soát và đẩy mạnh triển khai lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế… Hiện nay rất cần hiệp hội và doanh nghiệp đóng góp ý kiến, đề xuất để hình thành các yêu cầu, cam kết của ta trong tham gia các thỏa thuận quốc tế, các đàm phán FTA.
Đẩy mạnh nâng cao năng lực thực thi hội nhập quốc tế; tăng cường xây dựng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, có tri thức, kiến thức, kỹ năng hội nhập và kỹ năng nghề, đồng thời các cơ quan, hiệp hội cần đẩy mạnh đổi mới quản lý phù hợp tình hình, nhất là trong tình hình có nhiều yếu tố bất ổn, bất định. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cán bộ, đội ngũ luật sư, đào tạo nghề, gắn với nhu cầu xã hội và yêu cầu của hội nhập quốc tế nước ta.
Đổi mới cách thức, kiện toàn cơ chế phối hợp liên ngành, phù hợp với những chuyển biến nhanh của tình hình và hội nhập quốc tế nước ta. Công tác chuẩn bị trong nước để hội nhập quốc tế đang có những bước chuyển quan trọng, nổi bật là việc ban hành Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế và thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, trong đó đề ra các định hướng lớn về hội nhập và xác định hội nhập kinh tế là trọng tâm.
Bài đăng trên Tạp chí kiến trúc số 11/2015
Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Hiện nay, nước ta đã tham gia Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), đế DNNN tận dụng tốt các cơ hội phát triển, tiếp tục khẳng định vị thế, cần có những nghiên cứu, đánh giá hiệu quả hoạt động, đưa ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh phát triển mới.
Đóng góp cho nền kinh tế
Nhằm mục tiêu thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoạt động hiệu quả, đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế, chủ trương đổi mới DNNN của Đảng được đề ra từ Hội nghị Trung ương 3, khóa VI và liên tục được nhấn mạnh tại các kỳ đại hội. Hội nghị Trung ương 3, khóa IX đã ra Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 24/9/2001 về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN; Hội nghị Trung ương 9, khóa IX chủ trương tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN với mục tiêu “Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa (CPH) và mở rộng diện các DNNN cần CPH kể cả những DN lớn và một số tổng công ty kinh doanh có hiệu quả…”. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng ngày 28/1/2016 tiếp tục khẳng định chủ trương tái cơ cấu DNNN trong giai đoạn 2016-2020.
Thực hiện các chủ trương của Đảng, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm đổi mới DNNN nói chung và nâng cao hiệu quả hoạt động của khối DN này nói riêng. Theo đó, ngày 21/4/1998, Chính phủ ban hành Chỉ thị số 20/CT-TTg về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới DNNN; Nghị định 64/2002/NĐ-CP về việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần, thay thế Nghị định 44/1998/NĐ-CP; Quyết định số 50/2002/QĐ-CP về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại DNNN… Đặc biệt, ngày 17/07/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 929/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 – 2015”.
Về phía Bộ Tài chính, cũng đã ban hành các cơ chế, chính sách quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất – kinh doanh tại DN, tổ chức và hoạt động của DN, quản lý vốn và tài sản nhà nước đầu tư tại DN… đã góp phần hoàn thiện thể chế quản lý của Nhà nước cũng như hoạt động của các DNNN trong quá trình tái cơ cấu, trong đó phải kể đến các văn bản như: Nghị định số 87/2015/NĐ-CP ngày 6/10/2015 quy định về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào DN, Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 về quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại DNNN và DN có vốn nhà nước, Nghị định số 106/2015/NĐ-CP ngày 23/10/2015 quy định về quản lý người đại diện phần vốn nhà nước. Có thể nói, việc nỗ lực hoàn thiện cơ sở pháp lý đã giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN trong thời gian qua. Theo đó, hoạt động theo Luật DN đã xác định rõ hơn địa vị pháp lý, mở rộng quyền tự chủ, tăng quyền hạn và trách nhiệm của bộ máy quản lý, điều hành. Quyền tự chủ của DNNN đã thay đổi đáng kể so với trước. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bộ máy quản lý, điều hành đã mở rộng, bao gồm toàn bộ quyền điều hành kinh doanh và hầu hết quyền quản lý kinh doanh, định hướng chiến lược, kế hoạch dài hạn, trung hạn, hàng năm… và một phần quyền của sở hữu Nhà nước.
Việc chuyển DNNN sang hoạt động theo hình thức công ty mẹ – công ty con và hình thành tập đoàn kinh tế đã tạo ra bước phát triển quan trọng cho nền kinh tế, tạo ra mối liên kết hợp tác kinh doanh giữa các DN thành viên với nhau và với công ty mẹ – công ty con trên quan hệ bình đẳng, vừa chịu trách nhiệm vừa chia sẻ thành quả hoạt động, tạo nên hiệu quả kinh doanh cao hơn. Bên cạnh đó, chủ trương CPH đã góp phần thu hút một lượng vốn tương đối lớn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh của DN.
Về cơ bản, vốn nhà nước đầu tư vào các DNNN được bảo toàn và phát triển; tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu tại đại đa số tập đoàn, tổng công ty vẫn nằm trong giới hạn cho phép. Quy mô của các DNNN về vốn, lao động, tài sản cố định, cơ sở vật chất kỹ thuật… đều cao hơn khu vực DN ngoài nhà nước. Hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh của DNNN được nâng lên; cơ bản đáp ứng được nhu cầu thiết yếu cho quốc phòng, an ninh; trở thành một trong những công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội.
Thực tế, trong những năm qua, DNNN đã có những đóng góp quan trọng đắc lực cho nền kinh tế. Theo Tổng cục Thống kê, tuy chỉ chiếm chưa đến 1% về số lượng DN nhưng DNNN chiếm 30% vốn kinh doanh trong nền kinh tế và là thành phần kinh tế chủ đạo với vốn đầu tư tăng gấp 5 lần giai đoạn 2001-2011. Năm 2005, DNNN chỉ chiếm 3,6% về số lượng DN, tỷ lệ vốn nắm giữ 54,43%, đến năm 2010 tỷ lệ DN còn 1,2% với vốn nắm giữ 34,13%. Đến năm 2012, DNNN còn 0,93% với tỷ lệ vốn nắm giữ 32,31%. Tính bình quân giai đoạn 2008-2012, DNNN chiếm 36,68% tổng vốn, đóng góp 33,3% cho GDP, tạo việc làm cho 18,61% lực lượng lao động.
Những bất cập trong hoạt động.
Thời gian qua, dù được triển khai quyết liệt song tiến độ CPH vẫn chưa đạt như kế hoạch đề ra. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, kế hoạch giai đoạn 2011 – 2015, cả nước dự kiến CPH 538 DN, riêng giai đoạn 2014 – 2015 CPH 432 DN. Về kết quả thực hiện cho thấy, từ năm 2011 đến 2013 CPH 106 DN, năm 2014 đã CPH 143 DN, năm 2015 CPH được trên 240 DN. Như vậy, lũy kế giai đoạn 2011 – 2015 đã CPH được 422/538 DN. Riêng 2 năm 2014 – 2015 CPH được trên 380 DN.
Về tình hình thoái vốn đầu tư ngoài ngành, giai đoạn 2014- 2015, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải thực hiện thoái vốn vào 5 lĩnh vực nhạy cảm trong giai đoạn 2014 – 2015 là 25.218.995 triệu đồng (trong đó: lĩnh vực chứng khoán là 584.514 triệu đồng, lĩnh vực ngân hàng tài chính là 15.018.472 triệu đồng, lĩnh vực bảo hiểm là 843.294 triệu đồng, lĩnh vực bất động sản là 8.056.131 triệu đồng, quỹ đầu tư là 716.584 triệu đồng). Lũy kế đến tháng 25/12/2015, các đơn vị đã thoái được 9.924 tỷ đồng, thu về 15.004 tỷ đồng, tăng 1,5 lần so với giá trị sổ sách.
Trong đó: Lĩnh vực chứng khoán thoái được 156.416 triệu đồng, thu về 144.573 triệu đồng; Lĩnh vực ngân hàng tài chính là 1.603.013 triệu đồng, thu về 852.247 triệu đồng; Lĩnh vực bảo hiểm thoái được 111.711 triệu đồng, thu về 135.130 triệu đồng; Lĩnh vực bất động sản thoái được 2.930.039 triệu đồng, thu về 3.330.191 triệu đồng; Các quỹ đầu tư thoái được 173.929 triệu đồng, thu về 173.929 triệu đồng… Như vậy, số vốn đầu tư vào 5 lĩnh vực nhạy cảm cần phải thoái tiếp còn rất lớn. Đây đang là bài toán khó trong bối cảnh kinh tế – tài chính toàn cầu đang đối mặt với không ít thách thức, thị trường chứng khoán trong nước vẫn gặp nhiều khó khăn trong khi việc thoái vốn vẫn phải đảm bảo được hiệu quả, tránh tình trạng thất thoát nguồn lực nhà nước.
Theo số liệu công bố tại Diễn đàn Đối tác phát triển Việt Nam (VDPF) 2015 vừa diễn ra tại Hà Nội, hiện nay, tổng vốn nhà nước ở trong các DNNN có giá trị khoảng 55 tỷ USD và tổng giá trị tài sản của các DNNN nắm giữ là khoảng 130 tỷ USD. Ngoài hơn 800 DNNN chưa CPH, Chính phủ đang giữ phần vốn chi phối tại nhiều DN đã CPH, nên những DN này chưa thay đổi thực chất về quản trị.
Theo nhận định của VDPF, vấn đề quản trị, giám sát và cơ chế khuyến khích yếu đã khiến cho các DNNN tiếp tục có những quyết định kinh doanh kém, khiến năng suất trung bình của nền kinh tế giảm đi. Bên cạnh đó, theo các chuyên gia tài chính, nhìn lại thời gian qua, không khó để chỉ ra những tồn tại và bất cập trong hoạt động của các DNNN: Tốc độ CPH chậm và lượng vốn nhà nước nắm giữ trong các DNNN còn khá cao; Mặc dù được hưởng nhiều ưu đãi về cơ chế, chính sách, đặc biệt về vốn; được hưởng sự độc quyền trên một số lĩnh vực, nhưng đóng góp của các DNNN cho nền kinh tế còn hạn chế. Nhiều tập đoàn, tổng công ty đầu tư ngoài ngành lỗ nặng làm cho hiệu quả đầu tư toàn nền kinh tế hiệu quả thấp. Việc chuyển sang mô hình tổng công ty mẹ-con và tập đoàn kinh tế còn nhiều bất cập về quản trị công ty dẫn đến những rủi ro, tác động xấu đến nền kinh tế.
Bên cạnh đó, các DNNN hiện nay vẫn còn chưa chủ động trong việc huy động vốn và quản lý tài sản, chỉ có rất ít các DN có chiến lược huy động vốn một cách cụ thể, luôn rơi vào thế bị động. Hơn nữa, khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng của các DN này cũng bị hạn chế, hầu hết các DNNN lại chưa đủ uy tín để huy động vốn bằng phát hành trái phiếu… Tất cả những điều trên khiến DNNN luôn rơi vào thế bị động, không phát huy được quyền tự chủ về tài chính trong kinh doanh.
Đề xuất một số giải pháp
Mặc dù được hưởng nhiều ưu đãi về cơ chế, chính sách và được hưởng sự độc quyền trên một số lĩnh vực nhưng đóng góp của khu vực DNNN cho nền kinh tế vẫn chưa được như kỳ vọng. Trong khi đó, sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thế giới, những yêu cầu cấp thiết của chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng, DNNN đứng trước những thách thức đòi hỏi phải có những bước đi thích hợp nâng cao hiệu quả hoạt động. Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập sâu với nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt với việc tham gia các Hiệp định thương mại, đang tạo nên áp lực cạnh tranh gay gắt và đòi hỏi ngày càng lớn đối với khu vực DNNN.
Chẳng hạn, sau khi đàm phán với các nước, đặc biệt là với Hoa Kỳ, Việt Nam đã thông qua một số quy định của Hiệp định TPP về DNNN. Trong đó bao gồm các nội dung chủ yếu như: Các DNNN phải hoạt động theo cơ chế thị trường; DNNN không được nắm vị trí độc quyền, gây ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư; DNNN phải minh bạch hóa một số thông tin như tỷ lệ sở hữu của Nhà nước, báo cáo tài chính…; Nhà nước không được trợ cấp quá mức cho các DNNN, gây ảnh hưởng lớn đến lợi ích của nước khác.
Thực tế này đặt ra đòi hỏi cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách DNNN theo yêu cầu loại bỏ độc quyền và những ưu đãi dành riêng cho DNNN, áp đặt kỷ luật thị trường đối với DNNN để đảm bảo “tương thích” với cam kết TPP và giúp các DNNN phát triển vững chắc trong giai đoạn tới.
Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI về các văn kiện Đại hội XII của Đảng mới đây cũng xác định nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn tới “Chú trọng giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại DNNN với trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước”. Do vậy, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các DNNN trong thời kỳ hội nhập, trong thời gian tới cần chú trọng một số giải pháp sau:
Một là, quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động DNNN trong các Nghị quyết của Đảng, các chính sách của Nhà nước.
Hai là, đẩy mạnh tái cơ cấu các DNNN. Phân định rõ những ngành, những lĩnh vực Nhà nước cần nắm 100% vốn, những ngành Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối. Nhà nước chỉ cần nắm, chi phối các tập đoàn, tổng công ty ở những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, với vai trò can thiệp và “điều hướng” theo quỹ đạo của Nhà Nước.
Ba là, cần phải thiết lập sở hữu hỗn hợp và một cơ chế chế tài, giám sát hiệu quả hoạt động của DNNN. Bản thân DNNN là một thực thể đa mục đích, do đó, việc giám sát DNNN phải theo hướng đa mục đích, không thể đơn thuần chỉ chú ý đến mục đích tài chính thuần túy. Khi xác định được mục tiêu giám sát, sẽ xác định được các yếu tố còn lại như hình thức, phương pháp và cơ chế giám sát.
Bốn là, hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính và quản trị đối với DNNN. Nâng cao trách nhiệm giải trình, minh bạch, công khai về tài chính; Thực hiện nghiêm túc định kỳ chế độ kiểm toán đối với các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước; Hoàn thiện cơ chế quản lý DNNN trên cơ sở thực hiện quyền và trách nhiệm chủ sở hữu nhà nước đối với vốn, tài sản nhà nước tại DN, bảo đảm công khai, minh bạch về tài chính; Thực hiện nghiêm túc việc kiểm toán bắt buộc đối với các tập đoàn, tổng công ty, công ty nhà nước.
Năm là, nâng cao sức cạnh tranh của các DNNN, xóa bỏ một số lĩnh vực độc quyền, ưu tiên; các DNNN phải được đối xử bình đẳng như các DN khác trong nền kinh tế; Tách biệt vai trò Nhà Nước với tư cách chủ sở hữu và với tư cách quản lý.
Sáu là, đổi mới quản trị công ty, đào tạo nguồn nhân lực; thực hiện chế độ thi tuyển rộng rãi đối với giám đốc DN; Thực hiện chế độ tự chủ, phân cấp về nhân sự, chính sách tiền lương, tạo động lực cho quản lý và người lao động…
Theo Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 4/2016
Nhiều doanh nghiệp lo lắng việc Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang bị trì hoãn liệu có ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam, khi mà trước đây, có ý kiến cho rằng Việt Nam sẽ nhận nhiều thuận lợi khi tham gia TPP, đặc biệt trong xuất khẩu dệt may?
Điều đó có làm ảnh hưởng đến tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hay không, chúng ta phải chuẩn bị gì cho hội nhập… là những vấn đề được nhiều người quan tâm hiện nay.
Doanh nghiệp cần làm gì?
Câu trả lời của các chuyên gia là sự tác động từ TPP không lớn nếu doanh nghiệp biết tạo sức mạnh nội tại. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước quyết liệt trong tháo gỡ khó khăn về thể chế, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh, thế nhưng, đấy chỉ là yếu tố bên ngoài, cái chính là sự nỗ lực nội tại bên trong của doanh nghiệp.
Ngay trong Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII thông qua nghị quyết, trong đó có nội dung xác định rõ nội hàm đổi mới mô hình tăng trưởng và có thể khẳng định rằng, đã đến lúc cần có tư duy đột phá mang tính chiến lược trong phát triển kinh tế. Không ai khác, chính các doanh nghiệp phải thay đổi tư duy, tập trung tìm kiếm mô hình phát triển mới, có tầm nhìn dài hạn.
Với đặc thù có đến 90% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, do vậy, cách quản lý cũ theo kiểu gia đình không còn phù hợp khi đất nước mở cửa hội nhập. Bởi hầu hết các doanh nghiệp muốn đầu tư kinh doanh, vay vốn ngân hàng đều “dính” do báo cáo tài chính, xây dựng dự án kinh doanh không đạt yêu cầu. Do vậy, đã đến lúc doanh nghiệp cần thay đổi cơ chế quản lý hiện đại hơn.
Ngoài ra, một vấn đề mà doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm, đó chính là thiếu yếu tố “vì cộng đồng”. Rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đến Việt Nam khảo sát, kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp trong nước để hợp tác gia công, ký kết hợp đồng thương mại đều cho rằng, họ sẽ từ chối hợp tác với những doanh nghiệp không chú ý đến vệ sinh an toàn thực phẩm, không đảm bảo điều kiện môi trường hoặc không chú ý đến an sinh xã hội…
Đã có nhiều doanh nghiệp trong nước vì không nộp bảo hiểm cho nhân viên, không trang bị an toàn lao động cho người lao động nên bị đối tác nước ngoài từ chối hợp tác. Thậm chí, có doanh nghiệp nước ngoài cử hẳn đoàn kiểm soát đến tận xưởng sản xuất phía đối tác ở Việt Nam để hỏi từng nhân viên xem có ký hợp đồng, được nộp bảo hiểm không. Những việc này, lâu nay doanh nghiệp trong nước ít chú ý, cho đến khi bị “huốt” đối với hợp đồng lớn mới vỡ lẽ.
Tuy nhiên, ngoài yêu cầu thay đổi tư duy, quy trình sản xuất, chú ý đến phúc lợi xã hội thì một yếu tố cực kỳ quan trọng cho doanh nghiệp nhỏ bước ra biển lớn, đó là sự hợp sức, liên kết trong sản xuất kinh doanh. Đây là cách để nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam và là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới. Không chỉ trong sản xuất công nghiệp mà ngay trong sản xuất nông nghiệp cũng rất cần những “cánh đồng lớn” sản xuất theo quy chuẩn.
Chuyển từ quản lý sang phục vụ…
Đứng ở góc độ nhà nước, người cầm lái hướng con tàu kinh tế ra biển lớn, đòi hỏi trước tiên là phải thay đổi chính sách phù hợp. Cụ thể, trước yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập như hiện nay, cần thiết phải chuyển từ nền hành chính quản lý truyền thống sang nền hành chính tạo lập môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh.
Cụ thể là phải chuyển từ tư duy quản lý doanh nghiệp sang phục vụ doanh nghiệp. Xem doanh nghiệp như là khách hàng, mà cán bộ Nhà nước là người phục vụ, cung cấp dịch vụ, tạo điều kiện tốt nhất, tạo sự hài lòng nhất để doanh nghiệp phát huy hiệu quả nhất trong kinh doanh. Theo các chuyên gia, để làm được điều đó, Nhà nước cần đi trước một bước trong cải cách thể chế, chính sách và quy định.
Cụ thể và trước tiên là phải hoàn thiện thể chế, nhất là thể chế kinh tế, liên quan đến sản xuất, kinh doanh một cách đồng bộ, minh bạch, rõ ràng. Phải hiểu rằng, những thay đổi về chính sách, các quy định không ổn định của Việt Nam là điều rủi ro mà các doanh nghiệp lo lắng nhất.
Do vậy, cần phải cải cách các quy định về điều kiện kinh doanh, về quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu, phù hợp với thông lệ quốc tế. Ngoài ra, để minh bạch và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thì cần gấp rút cải cách hành chính, bãi bỏ các thủ tục hành chính rườm rà, khó hiểu; công khai hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, tăng cường trách nhiệm cung cấp thông tin, trách nhiệm của từng cán bộ.
Chính phủ điện tử đã có, nay cần tiến tới cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho doanh nghiệp, hạn chế sự tiếp xúc trực tiếp giữa doanh nghiệp với công chức, nhằm hạn chế được nhũng nhiễu. Và quan trọng nhất vẫn là thái độ cán bộ công chức và trách nhiệm người đứng đầu.
Bên cạnh việc xử lý những cán bộ thiếu năng lực, kém đạo đức, có tư duy gây khó dễ cho doanh nghiệp để trục lợi thì cũng cần quy trách nhiệm người đứng đầu nếu không kiểm soát tốt, không ứng dụng quy trình quản lý hiện đại, công khai, minh bạch, để cán bộ cấp dưới làm sai.
Nguồn: Báo Sài Gòn đầu tư