Từ nay đến năm 2018, nhiều cam kết quốc tế, trong đó có Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương – TPP sẽ có hiệu lực. Mốc thời gian không còn xa, với 96% trên tổng số doanh nghiệp đang hoạt động là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, Việt Nam đang đứng trước thách thức rất lớn về khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập.
Nhiều thách thức đặt ra
Ngày 4/2/2016, Hiệp định TPP đã được ký kết giữa 12 nước, gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ và Việt Nam, có quy mô kinh tế chiếm 40% GDP và 30% thương mại toàn cầu. Đây là một Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới – được kỳ vọng trở thành hình mẫu cho phát triển thương mại khu vực và thế giới với yêu cầu cao hơn trong bối cảnh lực lượng sản xuất phát triển rất nhanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Theo các chuyên gia, TPP cùng các hiệp định thương mại tự do khác mà Việt Nam đã và đang đàm phán, ký kết trong tương lai sẽ mang lại nhiều cơ hội thuận lợi nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức cho các doanh nghiệp (DN) Việt Nam, nhất là các DN nhỏ và vừa (DNNVV). Các cơ hội mà TPP và các hiệp định FTA mới đem lại sẽ tạo thêm xung lực mới cho phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là trong thu hút đầu tư và thúc đẩy xuất khẩu với các nền kinh tế lớn nhất thế giới. Đây là những khu vực có công nghệ nguồn, thị trường xuất khẩu và thu hút đầu tư lớn nhất của Việt Nam liên tục trong nhiều năm qua.
Nếu tính đến tác động cộng hưởng của các Hiệp định này với các FTA đã ký hoặc đang đàm phán, cơ hội còn lớn hơn nhiều vì nước ta sẽ có quan hệ thương mại tự do với 55 quốc gia, trong đó có 15 nước thuộc nhóm G20. Những cam kết trong các Hiệp định sẽ là những khung khổ, chuẩn mực để góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại và thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng…
Tuy nhiên, các Hiệp định này cũng đặt ra không ít những khó khăn thách thức. Thách thức lớn nhất là DN trong nước sẽ phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ DN nước ngoài. Trong đó, DNNVV được coi là đối tượng dễ bị tổn thương nhất khi tham gia sân chơi này. Phần lớn các DN này thiếu vốn trong khi việc huy động vốn từ thị trường lại kém hiệu quả do không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn vay vốn từ ngân hàng, chủ yếu chỉ tiếp cận được với vốn vay ngắn hạn. Không chỉ vậy, các DN này lại thiếu nguồn lao động có trình độ, thiếu chuyên gia, thợ bậc cao và người lao động có kỹ thuật, nhất là ở khu vực nông thôn.
Ngoài ra, trình độ hiểu biết cũng như kinh nghiệm tiếp cận thị trường thế giới, với luật lệ và văn hóa kinh doanh quốc tế của DN cũng rất hạn chế.
Thách thức về thực thi cũng rất lớn, từ hoàn thiện hệ thống pháp luật đến đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực cán bộ, công chức, chuyên gia kỹ thuật và pháp lý… Sức ép cạnh tranh sẽ diễn ra quyết liệt không chỉ ở thị trường các nước tham gia hiệp định mà ngay tại thị trường trong nước trên cả ba cấp độ: Sản phẩm, DN và quốc gia – đặc biệt là cạnh tranh về chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh. Trước sức ép cạnh tranh, một số DN nói chung và DNNVV nói riêng nếu không vươn lên được có thể phải giải thể hoặc phá sản, một bộ phận người lao động sẽ mất việc làm; khu vực nông nghiệp và nông dân dễ bị tổn thương…
Cần nhận thức sâu sắc rằng, cơ hội tự nó không thể chuyển thành sức mạnh kinh tế, lợi ích và khả năng cạnh tranh trên thị trường mà phải bắt nguồn từ nỗ lực và hiệu quả hoạt động của các DN nói chung và DNNVV nói riêng. Khó khăn thách thức sẽ là sức ép không nhỏ nhưng mức độ ảnh hưởng đến đâu phụ thuộc vào năng lực ứng phó của các DN. Phần lớn các DN này lại yếu về vốn, công nghệ, năng lực quản lý, kinh nghiệm tiếp cận thị trường.
Cạnh tranh trong nước đã khó, khi cam kết quốc tế có hiệu lực, họ lại càng phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ DN lớn bên ngoài, những điểm yếu của khối DN vừa và nhỏ theo đó sẽ càng được bộc lộ rõ nét hơn. Do đó, nếu họ biết tận dụng tốt cơ hội thuận lợi sẽ đẩy lùi được khó khăn thách thức, tạo ra cơ hội thuận lợi mới lớn hơn; ngược lại, khó khăn thách thức sẽ lấn át, nếu họ sẽ bị thua thiệt. Điều cần nhấn mạnh là, trong các hiệp định thương mại tự do, cơ hội luôn đi liền với thách thức và trong thách thức luôn ẩn chứa cơ hội – đây cũng là biện chứng của tiến trình phát triển.
Giải pháp phát triển
Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng không thể phủ nhận vai trò và những đóng góp của DNNVV đối với nền kinh tế là rất lớn như: Cung cấp một lượng hàng hóa đáng kể cho tiêu dùng với xuất khẩu, tạo ra việc làm và thu nhập cho người lao động, đóng góp cho ngân sách nhà nước thông qua nộp thuế. Trong bối cảnh phát triển của chuyên môn hóa và hợp tác cùng phát triển đã không cho phép một DN tự khép kín chu trình sản xuất kinh doanh, mà thay vào đó là các DNNVV là vệ tinh của DN lớn. Mô hình này đã và đang tỏ ra phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng như hiện nay. Với quy mô vốn và lao động không lớn, các DNNVV có thể nhanh chóng thành lập, chuyển đổi mặt hàng sản xuất kinh doanh.
Đây chính là yếu tố giúp thúc đẩy lưu thông hàng hóa, cung cấp hàng hóa, dịch vụ bổ sung của các DNNVV cho các DN lớn. DNNVV là vệ tinh, những xí nghiệp gia công những bộ phận đơn giản trong các sản phẩm, dịch vụ của các DN lớn, đồng thời là mạng lưới tiêu thụ hàng hóa cho các DN lớn.
Ngoài ra, DNNVV còn đóng vai trò tích cực trong phát triển kinh tế địa phương và tạo mối liên hệ chặt chẽ với các tổng công ty nhà nước và các tập đoàn xuyên quốc gia. Chẳng hạn, nhiệm vụ sản xuất ốc vít hay sạc pin cho điện thoại di động là phần việc của các DNNVV. Thực chất, đa phần công nghiệp phụ trợ tại các nước phát triển thường do các DNNVV đảm nhiệm. Vì đây là thế mạnh của loại hình DN này.
Phải thừa nhận, khi tham gia TPP, các DN Việt Nam đặc biệt là các DNNVV sẽ được tiếp cận với các thị trường rộng lớn, sẽ có nhiều cơ hội để phát triển sản xuất, nâng cao kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng các hoạt động dịch vụ, tạo tiền đề cho phát triển sản xuất trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhưng ngược lại, Việt Nam cũng phải mở cửa thị trường, nên mức độ cạnh tranh về sản xuất, tiêu thụ hàng hóa sẽ khốc liệt hơn khi các nhà đầu tư TPP tràn vào Việt Nam. Lúc đó, lượng hàng hóa nhập khẩu ngày càng nhiều, đa dạng về chủng loại, đẹp về mẫu mã, tốt về chất lượng, phù hợp về giá cả với quy trình sản xuất công nghiệp hiện đại nên có lợi thế cạnh tranh vượt trội hơn so với hàng hóa nội địa.
Nhiều nước tham gia TPP còn có xu hướng bảo hộ sản xuất nội địa, vì vậy hàng hóa của các DN Việt Nam sẽ phải đối mặt với với hàng rào phi thuế quan, hàng rào kỹ thuật trong thương mại với những yêu cầu nghiêm ngặt và tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường, lao động, an toàn vệ sinh thực phẩm, sở hữu trí tuệ, quy tắc xuất xứ hàng hoá, nhất là sản phẩm da giày, dệt may và thủy sản.
Với những thách thức không hề nhỏ khi tham gia TPP, các DN Việt Nam nói chung và DNNVV nói riêng cần nghiên cứu, nắm chắc nội dung của hiệp định để hạn chế rủi ro. Đo dó, DNNVV cần tự đánh giá lại mình để tìm ra những ưu, khuyết điểm đã bộc lộ trong thời gian vừa qua; soi với các điều kiện, tiêu chuẩn của TPP để tìm ra điểm chưa đáp ứng đủ. Qua đó, xác định rõ những vấn đề cần phát triển hoặc thu hẹp, nghiên cứu rõ các cơ chế, chính sách, điều kiện để tìm ra ưu khuyết điểm đối với DN để khai thác triệt để những lợi thế và khắc phục những yếu kém.
Hiện nay, các DN ở một số nước như Singapore, Malaysia đã đi tắt đón đầu và đang tận dụng rất tốt các cơ hội của hội nhập. Vì thế, để cải thiện và ứng phó với sức ép cạnh tranh sắp tới, DN Việt Nam phải luôn học hỏi và giữ tâm thế chủ động trong mọi tình huống.
Trước hết là chủ động chuẩn bị chu đáo nhằm cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu có mức giá ngày càng giảm bằng cách xây dựng các yêu cầu kỹ thuật tối thiểu; lưu trữ đầy đủ hồ sơ chứng từ gốc để chứng minh xuất xứ nguyên liệu đầu vào, chuẩn bị tốt các điều kiện khi có yêu cầu kiểm tra chất lượng sản phẩm tại cơ sở sản xuất; sẵn sàng ứng phó khi có tranh chấp thương mại xảy ra… Bởi chỉ riêng Hiệp định TPP, hàng hóa xuất khẩu vào thị trường này cũng đã phải đạt tỷ lệ nội địa hóa từ 55% giá trị trở lên.
Bên cạnh đó, DNNVV cũng cần chủ động nâng cao mẫu mã, chất lượng sản phẩm, dịch vụ sau bán hàng, có chiến lược kinh doanh phù hợp… để giữ vững thị phần trong nước đồng thời tìm kiếm các thị trường mới để đầu tư phát triển.
Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 4/2016
Trong những năm đầu của việc thi hành chính sách đổi mới kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế, thiếu hụt nghiêm trọng nguồn vốn đầu tư cho phát triển xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng. Hiểu được điều đó, nhà nước đã ban hành rất nhiều các chính sách ưu đãi để kêu gọi các nguồn vốn từ cả trong nước và nước ngoài. Nổi bật là chính sách về thuế, về đất đai, và các ưu đãi từ địa phương. Cụ thể một số các điều luật đã được ban hành như Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, luật đất đai, luật tín dụng.
Các chính sách về thuế, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo thời gian mức thuế suất thuế TNDN đã giảm từ 32% xuống còn 28% năm 2009 và xuống đến 22% kể từ năm 2014. Các ưu đãi về thuế TNDN thường được cấp cho các dự án đầu tư trong các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, hoặc vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn. Đến nay mức thuế suất ưu đãi đã giảm xuống tới 10% trong 15 năm áp dụng đối với dự án mới thành lập tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hoặc đối với dự án thuộc lĩnh vực công nghệ cao, sản xuất sản phẩm phần mềm… Miễn thuế cho doanh nghiệp nước ngoài trong thời hạn dài lên tới 5 năm, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp xuống mức chỉ còn 10% trong khi doanh nghiệp trong nước là 22%. Miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị và phương tiện vận tải chuyên dùng, miễn thuế tài nguyên và giảm tới 40% phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động hút cát, san nền. Đầu tư trong kĩnh vực công nghệ cao, trong nghiên cứu phát triển khoa học kỹ thuật, đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Miễn thuế xuất nhập khẩu được áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu để gia công và được miễn thuế xuất khẩu cho cùng loại hàng hóa đó khi tái xuất. Các loại hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu để phục vụ gia công được miễn thuế xuất khẩu, ngược lại khi tái nhập khẩu các linh kiện cấu thành được miễn thuế nhập khẩu căn cứ vào giá trị xuất khẩu.
Các chính sách về đất đai, Luật Đất đai 2003 ban hành, tiếp tới luật đất đai năm 2013 đã cho phép các nhà đầu tư nước ngoài chọn hoặc trả tiền thuê đất một lần hoặc trả tiền thuê đất hằng năm trong thời gian hoạt động, việc tiếp cận và thuê đất cũng dễ dàng hơn rất nhiều. Cụ thể thể hiện ở một số nội dung như sau: Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước kể từ ngày dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động:
– Ba (03) năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư; tại cơ sở sản xuất kinh doanh mới của tổ chức kinh tế thực hiện di dời theo quy hoạch, di dời do ô nhiễm môi trường.
– Bảy (07) năm đối với dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.
– Mười một (11) năm đối với dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; dự án đầu tư thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư; dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.
– Mười lăm (15) năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; dự án thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.
– Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư, lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện theo quy định của Chính phủ”. Các nhà đầu tư được hưởng lợi từ việc miễn tiền thuê đất và mặt nước đối với các dự án cả trong (i) thời gian xây dựng dự án được các cơ quan thẩm quyền phê duyệt và trong (ii) các lĩnh vực được hưởng khuyến khích đặc biệt và đầu tư tại các vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.
Ngoài ra các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vay tiền từ các ngân hàng Việt Nam được hưởng lãi suất ưu đãi tối đa 9%/năm đối với các dự án đầu tư thực hiện trong 5 lĩnh vực cụ thể là nông nghiệp và phát triển nông thôn, xuất khẩu, các ngành công nghiệp phụ trợ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các ngành công nghệ cao.
Như vậy nhà nước đã thực hiện rất nhiều các chính sách mở cửa để thu hút đầu tư. Tạo mọi điều kiện để có được môi trường tốt nhất thu hút các nhà đầu tư vào việt Nam, làm tăng tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước, tăng doanh thu thuế và tạo một tiền để cho sự phát triển vươn xa hơn vào thị trường quốc tế.
Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành có nhiều điểm mới, đặc biệt lần đầu tiên xuất hiện khái niệm Doanh nghiệp xã hội – một khái niệm doanh nghiệp mang tính nhân văn sâu sắc. Doanh nghiệp xã hội (social enterprise) được định nghĩa là những doanh nghiệp hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận thuần túy, các doanh nghiệp này được thành lập với mục tiêu là để giải quyết một vấn đề xã hội nào đó mà doanh nghiệp đó theo đuổi, phần lớn lợi nhuận thu được dùng để phục vụ mục tiêu xã hội và môi trường.
Xã hội Việt Nam phát triển bên cạnh sự khởi sắc của nền kinh tế thị trường đổi mới tuy nhiên sự phát triển ấy của nền kinh tế thị trường tạo ra ranh giới sâu sắc trong sự phân hóa giàu nghèo, sự chênh lệch mức sống và phổ biến lối sống giữa thành thị với nông thông có sự tương phản đặc biệt. Sự phát triển kinh tế thị trường ở một nền kinh tế đang phát triển không tránh khỏi những hệ quả kéo theo về mặt xã hội. Có hàng loạt các vấn đề xã hội nảy sinh và chưa tìm ra được hướng giải quyết hiệu quả nhất đó là: an sinh xã hội đối với người nghèo, người già, đối tượng sau khi thi hành án, bạo lực xã hội, phân biệt đối xử, tệ nạn xã hội, bệnh tâm lý, giáo dục, y tế quá tải và bất hợp lý, vệ sinh an toàn thực phẩm không đảm bảo, ô nhiễm môi trường rác thải, không khí, tiếng ồn, nền văn hóa bị ảnh hưởng… Đó chính là nhu cầu hết sức cấp thiết để xuất hiện các doanh nghiệp xã hội.
Theo quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014 và Nghị định 96/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp thì Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Doanh nghiệp xã hội sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký, chứ không nhằm mục tiêu chia lợi nhuận cho cổ đông hay thành viên trong công ty. Doanh nghiệp xã hội có quyền hoạt động kinh doanh tạo nguồn thu lợi nhuận nhằm bù đắp chi phí và phát triển các mục tiêu xã hội đã đề ra, tuy nhiên phải hoạt động kinh doanh là để tối ưu hóa lợi nhuận chứ không phải để tối đa hóa lợi nhuận. Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ mục tiêu đã nêu và mức lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư, doanh nghiệp phải hoàn lại toàn bộ các ưu đãi, khoản viện trợ, tài trợ dành riêng cho doanh nghiệp xã hội.
Chủ sở hữu doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp xã hội được xem xét, tạo thuận lợi và hỗ trợ trong việc cấp giấy phép, chứng chỉ và giấy chứng nhận có liên quan theo quy định của pháp luật; Doanh nghiệp xã hội được huy động và nhận tài trợ dưới các hình thức khác nhau từ các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức khác của Việt Nam ở nước ngoài để bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động của doanh nghiệp và báo cáo định kỳ hằng năm với cơ quan của thẩm quyền về tình hình hoạt động của doanh nghiệp.
Ngoài ra trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp đang hoạt động muốn chuyển thành doanh nghiệp xã hội hoặc doanh nghiệp xã hội muốn từ bỏ mục tiêu xã hội, môi trường, không sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư thì doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật. Có thể thấy sự linh động trong quy định này của pháp luật tạo điều kiện khuyến khích, hỗ trợ, thúc đẩy cho doanh nghiệp rất lớn trong việc thay đổi chiến lược hoạt động kinh doanh cũng như dễ dàng lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu thực tiễn của mình.
Từ những nét đặc thù riêng của mình, thiết nghĩ các doanh nghiệp xã hội cần có chiến lược tổ chức và hoạt động riêng và chiến lược phát triển tổng thể nói chung khác cơ bản so với các doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận để mang lại sự thành công cho loại hình doanh nghiệp mà mình đã lựa chọn.
Đến thời điểm hiện nay, việc các tổ chức đăng ký doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp 2014 đã bắt đầu phát triển việc đăng ký, chuyển đổi mô hình hay thành lập mới được tiến hành thuận lợi vì đã có Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT ngày ngày 17 tháng 5 năm 2016 quy định các biểu mẫu văn bản sử dụng trong đăng ký doanh nghiệp xã hội theo quy định tại Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2016. Tuy nhiên trong thực tế, trước khi có quy định về doanh nghiệp xã hội trong Luật Doanh nghiệp và Nghị định hướng dẫn thì tại Việt Nam đã có nhiều tổ chức xã hội và doanh nghiệp có những đặc điểm của doanh nghiệp xã hội đã hình thành và hoạt động từ nhiều năm, góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho người khuyết tật, hỗ trợ các đối tượng là nạn nhân của các tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình, đói nghèo, nối rộng vòng tay nhân ái, khắc phục ô nhiễm môi trường…như: Help International, Công ty TNHH đầu tư Dragon Việt Nam, Công ty TNHH Dịch vụ tư vấn và giáo dục WE Link….
Doanh nghiệp xã hội, tuy là một hình thức doanh nghiệp mới, có mô hình tổ chức theo luật doanh nghiệp như các doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận khác, có chức năng độc lập nhưng vì đặ thù riêng lại có sự phụ thuộc rất lớn vào sự ủng hộ của dư luận xã hội, điều kiện của chính phủ, cộng đồng và nguồn lực từ các đơn vị tài trợ khác để phát triển thuận lợi. Từ những đặc điểm trên, có thể thấy để quản lý doanh nghiệp xã hội rất phức tạp vì phải đồng thời thực hiện cả mục tiêu tài chính để duy trì doanh nghiệp và mục tiêu xã hội để phát triển doanh nghiệp trong đó mục tiêu xã hội là mục tiêu nền tảng và được ưu tiên nhất.
Ở buổi ban đầu, ví trí pháp lý của doanh nghiệp xã hội được công nhận, các doanh nghiệp hiện nay thường quan tâm để lồng ghép các vấn đề môi trường, xã hội thông qua các môi trường kinh doanh. Đây là dấu hiệu tích cực trong việc thay đổi nhận thức của người trẻ nói riêng, nhận thức của cộng đồng nói nói chung, hướng đến các giá trị nhân văn ngay từ khi hình thành ý tưởng kinh doanh. Như vậy có thể thấy rằng, sự chủ động của mỗi cá nhân khi khởi nghiệp góp phần giải quyết các vấn đề nhân văn, đã hình thành các cầu nối hoạt động phi lợi nhuận vươn xa trong khu vực và thế giới, nhằm chia sẻ kiến thức, liên kết các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có cùng tâm huyết hướng tới xây dựng doanh nghiệp xã hội theo xu hướng chung của quốc tế, gia tăng khả năng tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ từ trong và ngoài nước, nhằm khai thác tối đa nguồn lực của khối tư nhân, đầu tư để giải quyết các vấn đề của xã hội và môi trường. Cùng với sự công nhận tư cách pháp lý, sự ủng hộ của Chính phủ và các nguồn lực xã hội và việc cam kết những mục tiêu mà doanh nghiệp xã hội hướng đến chúng ta hoàn toàn có thể hi vọng vào tương lại xây dựng một nền kinh tế bền vững mà toàn cầu đang hướng đến tại Việt Nam./.
Sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã và đang đạt được nhiều những thành tựu quan trọng như nền kinh tế Việt Nam từ một nước nghèo chậm phát triển nay đã tiến lên thành thoát nghèo và là một trong những nước đang phát triển, ngoài ra thành tự trong lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế cũng như đầu tư trực tiếp nước ngoài. Việc mở cửa thị trường dẫn đến tự do hóa thương mại và đưa Việt Nam hội nhập vào thị trường quốc tế một cách nhanh chóng. Vì vậy nhu cầu về nguồn vốn để phát triển kinh tế thị trường ngày càng cần thiết hơn bao giờ hết. Theo thống kê về ngồn vốn FDI cho thấy dòng vốn FDI luôn là động lực quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong suốt hơn 26 năm qua. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) luôn phát triển mạnh và là một thị trường năng động cho các doanh nghiệp phát triển. Cùng với sự tác động tích cực tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế, FDI còn đóng góp vào nguồn thu thuế của nhà nước, thúc đẩy các nhà sản xuất trong nước nâng cao năng lực trình độ tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh. Sơ qua những số liệu về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong những năm qua. Trong 26 năm từ 1988-2016, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đến gần cuối năm 2016 đã đạt khoảng hơn 290 tỷ USD, tổng vốn thực hiện đạt 150 tỷ USD, lĩnh vực công nghiệp chiếm tới gần 60%. Theo thống kê của Cục Đầu tư Nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), đã có 116 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam và nhà đầu tư đã có mặt tại 63 tỉnh thành trên cả nước. Đầu tư nước ngoài đã tạo ra một phương thức thu hút đầu tư mới, góp phàn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khơi dậy hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước.
Nguồn vốn FDI vào Việt Nam đồng thời sẽ tạo ra các tác động tích cực đối với việc huy động các nguồn vốn khác như ODA, NGO, đồng thời kích thích thu hút vốn đầu tư trong nước. Cùng với vấn đề tạo cho các doanh nghiệp trong nước được cơ hội tiếp cận khoa học – công nghệ, tiếp thu kỹ thuật hiện đại từ các nước công nghiệp phát triển. Kích thích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ đa dạng hóa sản phẩm với giá cả cạnh tranh. Kích thích chuyển dịch cơ cấu tỷ trọng trong các nền kinh tế định hướng công nghiệp hóa. Theo thống kê hiện nay gần 60% vốn đầu tư tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo, tạo ra trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như viến thông, dầu khí, điện tử, thép…
Mặt khác việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài còn đang gặp nhiều khó khăn và thách thức như, việc chuyển đổi cơ cấu tổ chức kinh tế, đầu tư diễn ra khó khăn. Các chính sách ưu tiên đầu tư vào công nghệ cao, thân thiện với môi trường không đạt được hiệu quả như dự kiến. Các khu công nghiệp khu công nghệ cao còn chưa có được sự đồng nhất, chuyển dịch cơ cấu vùng lãnh thổ diễn ra chậm chạp. Nguồn vốn đầu tư cho các dự án còn khiêm tốn so với các nước phát triển lân cận như Thái lan, Malaixia, Inđônexia…Nhiều máy móc thiết bị còn lạc hậu gây ô nhiễm môi trường mất an toàn lao động. Ngoài ra tình trạng các doanh nghiệp kê khai nguồn thu lỗ, trốn thuế, gian lận thương mại trong nhiều năm gây thất thu nguồn ngân sách nhà nước. Các tranh chấp lao động, đình công diễn ra ngày càng nhiều, gây mất an ninh trật tự. Các vi phạm quy định về môi trường ngày càng nhiều.
Để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển bền vững chúng ta phải có những định hướng đầu tư, chính sách phát triển nhất quán, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư và có tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực. Đầu tư có chọn lọc và đi vào chiều sâu có tính lan tỏa. Tăng cường khung pháp lý bảo hộ cho nhà đầu tư, hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư thu hút các dự án công nghệ cao , có nguồn vốn đầu tư lớn. Nói không với những dự án tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường và công nghệ lạc hậu. Ngoài ra hoàn thiện các quy định pháp luật về đầu tư, tăng cường công tác quản lý của địa phương, cải cách thủ tục hành chính lấy người dân, doanh nghiệp làm đối tượng phục vụ. Thường xuyên theo dõi giám sát kiểm tra việc thực thi pháp luật của các cơ quan quản lý địa phương.
Hiện nay, xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu đang lan tỏa mạnh mẽ đến tất cả các nước trên thế giới mà trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài là một kênh hội nhập hiệu quả nhất, nhanh nhất để các nền kinh tế trên thế giới giao thương lẫn nhau. Hoạt động này đã xuất hiện ở các nước phát triển từ rất lâu nhưng đối với các nước đang phát triển và kém phát triển thì đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mới xuất hiện trong vài thập kỷ trở lại đây. Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng chỉ thực sự phát triển trong những năm gần đây và đang có xu hướng gia tăng trong thời gian tới.
Đầu tư ra nước ngoài đang được xem là xu hướng mới của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài tính đến hết quý I năm 2013, Việt Nam có 742 dự án đầu tư ra nước ngoài của của doanh nghiệp Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 15,5 tỷ USD. Các dự án ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam tập trung phần lớn trong lĩnh vực khai khoáng với 99 dự án, tổng vốn đầu tư 4,6 tỷ USD, (chiếm 13,3% về số dự án và 46% tổng vốn đầu tư); tiếp theo là lĩnh vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản với 80 dự án, tổng vốn đầu tư 1,9 tỷ USD (chiếm 10,8% số dự án và 12,6% tổng vốn đầu tư); lĩnh vực sản xuất điện đứng thứ ba với 1,8 tỷ USD vốn đầu tư, chiếm 12,1%.
Đến nay, các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư sang 59 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, Lào đứng vị trí thứ nhất với có 227 dự án, tổng vốn đầu tư trên 4,2 tỷ USD (chiếm 30,6% số dự án và 27,1% vốn đầu tư), Campuchia đứng vị trí thứ 2 với 129 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 2,7 tỷ USD (chiếm 17,4% số dự án và 17,6% vốn đầu tư). Tiếp theo là Liên bang Nga (chiếm 15,2% vốn đầu tư), Venezuela (11,8% vốn đầu tư) và các quốc gia khác.
Vốn thực hiện lũy kế đến nay ước đạt khoảng 3,8 tỷ USD; trong đó khoảng 2,9 tỷ USD trong lĩnh vực dầu khí; gần 500 triệu USD trong lĩnh vực trồng cây cao su khoảng; 400 triệu USD trong lĩnh vực thủy điện; viễn thông 249 triệu USD…Vốn đầu tư thực hiện tại Lào đạt khoảng 691 triệu USD; Campuchia đạt khoảng trên 621 triệu USD…
Trong tổng vốn đầu tư thực hiện của các dự án đầu tư ra nước ngoài, có một phần đáng kể vốn được thực hiện thông qua việc mua sắm, sử dụng hàng hóa, máy móc, thiết bị, dịch vụ từ trong nước. Điều này góp phần làm tăng giá trị xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam ra nước ngoài. Trong nước (không chuyển ra nước ngoài). Theo báo cáo của Tập đoàn dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Sông Đà, Tập đoàn cao su Việt Nam, Tập đoàn Than khoáng sản, Viettel, Hoàng Anh – Gia Lai… một phần vốn đầu tư ra nước ngoài được thực hiện để trả cho các nhà thầu của Việt Nam hoặc mua háng hóa, dịch vụ của Việt Nam để chuyển ra nước ngoài thực hiện dự án.
Thêm vào đó chính phủ đã đưa ra các chính sách ưu đãi đặc biệt như ưu đãi về thuế. Theo đó hàng hóa xuất khẩu dưới hình thức tạm nhập tái xuất để thực hiện dự án đầu tư tại nước ngoài, khi xuất khẩu thực hiện kê khai, nộp thuế theo quy định của pháp luật. Nếu tái nhập thì không phải nộp thuế nhập khẩu (NK) và được xét hoàn lại số thuế XK đã nộp, tương ứng với số hàng hóa thực tế đã tái NK.
Nếu hàng hóa là máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu (trừ tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa qua chế biến) XK để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư tại nước ngoài thì được áp dụng thuế giá trị gia tăng (GTGT) 0%; được khấu trừ thuế GTGT đầu vào như hàng hóa XK theo quy định của Luật Thuế GTGT; khi thanh lý hoặc kết thúc dự án, nếu NK trở lại vào Việt Nam thì được xét hoàn thuế XK đã nộp, tương ứng với số lượng hàng hóa thực tế tái nhập và không phải nộp thuế NK. Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (DN) để tính và kê khai thuế đối với các khoản thu nhập từ nước ngoài là 25%, không áp dụng mức thuế suất ưu đãi mà DN Việt Nam đầu tư ra nước ngoài đang được hưởng theo Luật Thuế thu nhập DN hiện hành. Thông tư quy định, nhà đầu tư Việt Nam là hộ kinh doanh, cá nhân thực hiện dự án đầu tư tại nước ngoài hoặc làm việc cho các dự án đầu tư tại nước ngoài, nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và quốc gia mà nhà đầu tư thực hiện dự án (nếu có), Luật Thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam.
Trường hợp khoản thu nhập từ dự án đầu tư tại nước ngoài đã chịu thuế thu nhập DN (hoặc một loại thuế có bản chất tương tự như thuế thu nhập DN) ở nước ngoài, khi tính thuế thu nhập DN phải nộp tại VN, DN VN đầu tư ra nước ngoài được trừ số thuế đã nộp ở nước ngoài hoặc đã được đối tác nước tiếp nhận đầu tư trả thay (kể cả thuế đối với tiền lãi cổ phần), nhưng số thuế được trừ không vượt quá số thuế thu nhập tính theo quy định của Luật thuế thu nhập DN của VN. Số thuế thu nhập DN VN đầu tư ra nước ngoài được miễn, giảm đối với phần lợi nhuận được hưởng từ dự án đầu tư ở nước ngoài theo luật pháp của nước DN đầu tư cũng được trừ khi xác định số thuế thu nhập DN phải nộp tại VN.
Vậy vấn đề đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đang được nhà nước chú trọng đến mội cách sâu rộng hơn. Để phát huy thế mạnh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế, đưa Việt Nam ngày càng phát triển mạnh so với xu hướng phát triển của thế giới.
Đối với bất kỳ một quốc gia nào dù là nước phát triển hay đang phát triển thì vốn luôn đóng 1 vai trò đặc biệt quan trọng và cần thiết trong quá trình phát triển kinh tế cũng như giải quyết các vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội. Nguồn vốn để phát triển kinh tế có thể được huy động ở trong nước hoặc từ nước ngoài, tuy nhiên nguồn vốn thường có hạn nhất là đối với những nước phát triển như Việt Nam. Vì vậy nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài ngày càng giữ 1 vai trò quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia.
Trong những năm vừa qua Việt Nam đã rất coi trọng công tác thu hút đầu tư từ nước ngoài. Chính phủ liên tục cải thiện môi trường đầu tư, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, trong đó đặc biệt coi trọng việc triển khai chương trình xây dựng pháp luật.
Theo báo cáo tổng kết 25 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam của Bộ kế hoạch và Đầu tư, Việt Nam đã thu hút hơn 15.000 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tỷ trọng đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào GDP tăng dần qua các năm và đạt khoảng 20%GDP đóng góp 17 tỷ USD cho ngân sách nhà nước trong 5 năm vừa qua. Sự gia tăng mạnh mẽ của nguồn vốn đầu tư nước ngoài được thể hiện rõ nét qua các thời kỳ từ khoản 20,67 tỷ USD chiếm 24,32% tổng vốn đầu tư giai đoạn 1999-2000 đã tăng lên 69,47 tỷ USD, chiếm 22,57% tổng vốn đầu tư giai đoạn 2001-2011. Thêm vào đó Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư 2014 thay thế luật doanh nghiệp và luật đầu tư 2005 được coi là một bước đột phá trong việc mở cửa thị trường đổi mới khu vực, thu hút nguồn vốn đầu tư FDI từ nước ngoài vào Việt Nam không chỉ tăng về chất mà tăng cả về lượng. Các doanh nghiệp FDI đã góp phần làm thay đổi cơ cấu đất nước từ 1 nước nông nghiệp dần chuyển sang phi nông nghiệp. Thay đổi cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu theo chiều hướng giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng hàng sơ cấp, tăng tỷ trọng hàng chế tạo. Luật sửa đổi đã có tác động tích cực tới việc mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, làm thay đổi đáng kể đến thị trường trong nước. Không những thế còn làm ổn định thị trường trong nước, giảm nhập siêu, tạo ra công việc cho hơn 2 triệu lao động trực tiếp , 4 triệu lao động gián tiếp không những thế còn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Những kết quả từ thực tế cho thấy công tác quản lý nhà nước về nguồn vốn đầu tư nước ngoài đang tiến dần đến chiều sâu, nâng cao chất lượng góp phần không nhỏ trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam.
Luật đầu tư 2014 được đánh giá là một bước đột phá và cải cách mạnh mẽ góp phần tạo nên môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, thông thoáng và hấp dẫn. Điểm đáng chú ý là Luật sửa đổi lần này sẽ hướng tới các doanh nghiệp nước ngoài thuận lợi hơn khi đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Đồng thời cũng làm rõ lĩnh vực ngành nghề kinh doanh ưu tiên cũng như các khu vực được khuyến khích đầu tư, đồng thời điều chỉnh những bất cập về ngành ngề kinh doanh có điều kiện. Hướng tới việc xây dựng môi trường đầu tư công khai.
Nói đến tác động của luật đầu tư mới thì đây được coi là một hành lang pháp lý mới được cộng đồng các nhà đầu tư, doanh nghiệp phản ứng rất tích cực. Giúp các nhà đầu tư và doanh nghiệp có niềm tin về môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được đó vẫn còn tồn tại một số hạn chế như công tác quản lý Nhà nước đối với nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài còn hạn chế và thiếu tính minh bạch. Tổng nguồn vốn đầu tư vào các dự án chưa cao, giá trị gia tăng tạo ra tại Việt nam vẫn còn thấp. Định hướng thu hút nguồn đầu tư còn thấp vì các lý do như điều kiện để được đầu tư vào Việt nam còn khó khăn. Mục tiêu thu hút công nghệ, chuyển giao công nghệ chưa đạt yêu cầu. Theo thống kê cho thấy nguồn đầu tư vào Việt Nam còn rất khiêm tốn so với các nước trong khu vực Châu Á. Cho đến nay mới chỉ có hơn 100 tập đoàn xuyên quốc gia có mặt tại Việt Nam. Tỷ lệ vốn góp thấp so với số vốn đăng ký, hầu hết các dự án có quy mô nhỏ và vừa, tiến độ dự án còn chậm và không đúng với tiến độ đã cam kết.
Để tăng hiệu quả thu hút nguồn vốn FDI tại Việt Nam trong thời gian tới cần thực hiện một số biện pháp sau:
– Cải cách thủ tục hành chính, đi đầu là sửa đổi và hoàn thiện luật đầu tư và các văn bản pháp luật khác liên quan để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài.
– Cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư. Cần có chiến lược định hướng hoạch định rõ ràng. Tổ chức lại bộ máy nhà nước để thuận tiện hơn cho các nhà đầu tư khi xin phép đầu tư vào Việt Nam.
– Xây dựng quy hoạch chi tiết cho các nguồn vốn FDI vào Việt Nam. Xây dựng quy hoạch vốn FDI theo ngành, vùng lãnh thổ.
Những nghiên cứu khác nhau cho thấy, hệ thống pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có những tiêu chí riêng. Để bảo đảm tính tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản dưới luật, pháp lệnh đối với hệ thống pháp luật là vấn đề lớn, đòi hỏi sự quan tâm, nỗ lực của từng cơ quan cũng như sự phối hợp đồng bộ từ cơ quan xây dựng, soạn thảo, thẩm định ban hành cho đến cơ quan kiểm tra, giám sát, rà soát văn bản quy phạm pháp luật. Do đó cần phải hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động các chủ thể trực tiếp tham gia vào quy trình xây dựng, ban hành, giám sát, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật.
1. Tiếp tục đơn giản hoá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Cần thu gọn các loại văn bản chứa quy phạm pháp luật nhằm làm cho hệ thống pháp luật đơn giản hơn, tạo thuận lợi cho việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, làm cho hệ thống pháp luật dễ tiếp cận, thuận lợi cho công tác thi hành và áp dụng pháp luật. Việc đơn giản hoá các hình thức văn bản quy phạm pháp luật giúp cho việc phân biệt rõ hơn văn bản quy phạm pháp luật với các loại văn bản pháp luật khác (văn bản điều hành, văn bản áp dụng, văn bản hành chính); đồng thời, tạo điều kiện cho việc xác định rõ trật tự hiệu lực pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và phù hợp với thông lệ lập pháp quốc tế.
2. Hạn chế tình trạng ban hành “luật khung”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định “Văn bản quy phạm pháp luật phải được quy định, cụ thể để khi có hiệu lực thì thi hành được ngay. Trong trường hợp văn bản có điều, khoản, điểm mà nội dung liên quan đến quy trình, quy chuẩn kỹ thuật và những nội dung khác cần quy định chi tiết thì ngay tại điều, khoản, điểm đó có thể giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định chi tiết. Văn bản quy định chi tiết chỉ được quy định nội dung được giao và không được quy định lặp lại nội dung của văn bản được quy định chi tiết”, nhưng trên thực tế vẫn xảy ra không ít các trường hợp vẫn quy định theo hướng “luật khung” còn để lại giao cho các cơ quan khác quy định cụ thể. Vì vậy, để tránh tình trạng các văn bản do cơ quan cấp dưới ban hành trái hoặc mâu thuẫn với văn bản do cơ quan cấp trên thì khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật các cơ quan cấp trên cần cố gắng đưa ra những quy định cụ thể để có thể thi hành được ngay, không cần có các văn bản quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành.
3. Áp dụng kỹ thuật một văn bản sửa nhiều văn bản.
Việc dùng một văn bản để sửa nhiều văn bản là một quy định tiến bộ của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó có thể tiến hành việc sửa đổi nhiều văn bản ngay trong một văn bản thay vì phải sửa đổi lần lượt từng văn bản. Chính vì vậy, với việc áp dụng kỹ thuật một văn bản sửa nhiều văn bản cho phép một cơ quan khi sửa đổi một quy định của pháp luật sẽ đồng thời sửa ngay những quy định có liên quan trong các văn bản quy phạm pháp luật khác do mình ban hành để bảo đảm sự thống nhất giữa các quy định mới với với hệ thống pháp luật, tránh xảy ra các trường hợp mâu thuẫn, chồng chéo, trùng lắp với các quy định cũ trong hệ thống pháp luật.
4. Nâng cao hiệu quả của công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật bao gồm các hoạt động: Hoạt động tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật; hoạt động kiểm tra của cơ quan cấp trên đối với việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan cấp dưới;… Hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật nhằm mục đích phát hiện ra những văn bản quy phạm có nội dung không bảo đảm thống nhất với hệ thống pháp luật để kịp thời xử lý xử lý, loại bỏ ra khỏi hệ thống pháp luật.
5. Xây dựng thiết chế tài phán đối với các văn bản quy phạm pháp luật.
Hoạt động giám sát kiểm tra nhằm phát hiện những văn bản quy phạm pháp luật không bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, mâu thuẫn, chồng chéo không đem lại nhiều hiệu quả, kể cả khi phát hiện ra những trường hợp văn bản có dấu hiệu sai trái thì việc xử lý cũng ít khi được thực hiện. Điều đó dẫn đến những quy định sai trái đó vẫn có hiệu lực. Vì vậy cần thiết phải có thiết chế tài phán để xem xét, ra phán quyết đối với các văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu không bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật. Đây là việc làm cần thiết nhằm loại bỏ triệt để những quy định của pháp luật mâu thuẫn chồng chéo tồn tại trong hệ thống pháp luật…
Nhận thức sâu sắc về vai trò của pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam hội nhập với thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Chính vì vậy, hệ thống pháp luật Việt Nam từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây đã có sự phát triển mạnh mẽ, với nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, hệ thống pháp luật Việt Nam cũng đã và đang bộc lộ những khiếm khuyết nhất định. Điều này được thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật còn nhiều chồng chéo, mâu thuẫn: Hệ thống pháp luật Việt Nam rất đa dạng về thể loại văn bản và khổng lồ về số lượng văn bản quy phạm pháp luật. Trong hệ thống pháp luật có 26 loại văn bản được xác định là văn bản quy phạm pháp luật. Theo số liệu của Cơ sở dữ liệu pháp luật Bộ Tư pháp, tính từ ngày 01/01/1987 đến ngày 30/12/2016, chỉ tính riêng văn bản pháp luật do các cơ quan trung ương ban hành thì hệ thống pháp luật nước ta đã có tới gần 20 nghìn văn bản, trong đó có 225 luật, bộ luật đang có và sắp có hiệu lực. Nếu kể cả các văn bản pháp luật do các cấp chính quyền địa phương ban hành thì con số này sẽ rất đồ sộ. Hơn nữa, do có quá nhiều loại văn bản được nhiều cấp ban hành, nhưng lại thiếu cơ chế cân nhắc toàn diện các lĩnh vực pháp luật khác nhau, nên mâu thuẫn và chồng chéo là khó tránh khỏi. Tính cồng kềnh, sự tồn tại các bất cập và mâu thuẫn làm giảm tính minh bạch của pháp luật, khiến cho pháp luật trở nên phức tạp, khó hiểu và khó áp dụng và vì thế, kém hiệu lực. Với hệ thống pháp luật như vậy, việc áp dụng, thực hiện không hề dễ dàng đối với cán bộ pháp luật có trình độ, chưa nói đến các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân.
Thứ hai, pháp luật thường xuyên thay đổi: Thực tế này là hệ quả tất yếu của việc chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường. Trong quá trình thể chế hoá các yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội, có không ít các quan điểm e ngại với những vấn đề mới, chỉ chấp nhận những vấn đề đã chín muồi, có sự đồng thuận cao, do đó khó tạo ra những đột phá và từ đó, có sự ổn định cần thiết. Thực tế này có nguyên nhân ở sự thiếu vắng những tầm nhìn và quan điểm chiến lược cho sự phát triển các lĩnh vực kinh tế – xã hội cụ thể của cả hệ thống pháp luật. Chính vì vậy, nhiều văn bản pháp luật tuổi thọ rất ngắn, thậm chí mới ban hành đã phải tạm hoãn thực hiện hoặc phải sửa đổi, bổ sung. Pháp luật thường xuyên bị thay đổi, dẫn đến những khó khăn đáng kể trong việc thực hiện và tác động xấu đến sự ổn định của các quan hệ xã hội, nhất là đối với các quan hệ kinh tế.
Thứ ba, rất nhiều văn bản pháp luật có tính quy phạm thấp: Điều đó được hiểu rằng các văn bản quy phạm pháp luật thiếu những quy tắc xử sự cụ thể mà chủ thể phải thực hiện. Có những văn bản chứa đựng những quy định mang tính tuyên ngôn hơn là quy phạm pháp luật. Nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội đòi hỏi phải được điều chỉnh cụ thể, chi tiết thì pháp luật lại là văn bản pháp luật “khung”. Phần lớn các văn bản luật như vậy giao cho Chính phủ ban hành nghị định để cụ thể hoá. Nhiều nghị định của Chính phủ lại giao cho bộ, ngành, địa phương hướng dẫn thực hiện. Thực tế này đã dẫn đến tình trạng nảy sinh không ít mâu thuẫn giữa văn bản hướng dẫn và văn bản được hướng dẫn thi hành.
Thứ tư, tính minh bạch của hệ thống pháp luật còn hạn chế: Công báo của Trung ương và các tỉnh đã đăng tải khá đầy đủ, kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật. Các phương tiện thông tin đại chúng, cả hệ thống chính trị và xã hội đã có nhiều cố gắng tuyên truyền, phổ biến rộng rãi pháp luật. Như vậy, xét ở khía cạnh khả năng tiếp cận thì tính minh bạch của hệ thống pháp luật được bảo đảm tốt hơn. Tuy nhiên, xét ở tính minh xác, tính minh định thì hệ thống pháp luật vẫn còn thiếu tính minh bạch. Chính hạn chế này khiến các chủ thể thực sự lúng túng khi thực hiện hay áp dụng pháp luật. Quy trình xây dựng pháp luật vẫn chưa tạo được cho công chúng những tiếp cận và tham gia cần thiết. Các ý kiến của chuyên gia, của các nhà khoa học nói riêng và của công chúng nói chung chưa thực sự được cân nhắc và tiếp thu. Mặt khác, tính tích cực công dân tham gia xây dựng pháp luật nhìn chung chưa cao.
Thứ năm, tính hệ thống của pháp luật còn rất hạn chế: Các văn bản luật, các văn bản dưới luật khác nhau chưa thực sự tạo thành một chỉnh thể với những nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt mang tính chuyên ngành hoặc liên ngành. Những mâu thuẫn giữa Luật Nhà ở, Luật Đất đai, Bộ luật Dân sự về một số vấn đề (như: Hiệu lực các giao dịch, về căn cứ xác định sở hữu, đăng ký quyền sở hữu) mà công luận nêu lên gần đây là ví dụ cho tính hệ thống thấp của pháp luật hiện hành của nước ta./.
Pháp luật là nền tảng của Nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ là hệ thống pháp luật làm nền tảng cho Nhà nước pháp quyền phải như thế nào? Đương nhiên, một hệ thống pháp luật với những quy định hạn chế quyền tự do, dân chủ của nhân dân, cản trở sự tiến bộ xã hội, công lý không được bảo đảm, chưa kể đến việc thủ tiêu các quyền tự do, dân chủ của nhân dân, thì không thể trở thành nền tảng của Nhà nước pháp quyền, bởi vì không đáp ứng được yêu cầu thứ hai của Nhà nước pháp quyền là bảo đảm quyền tự do, dân chủ của người dân và công lý. Như vậy, khi tiếp cận pháp luật từ góc độ Nhà nước pháp quyền, có thể nhận diện được một số yêu cầu sau đây đối với hệ thống pháp luật:
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang được hiện thực hoá trong thực tiễn hoạt động của bộ máy nhà nước và các thiết chế xã hội. Điều quan trọng cần được nhấn mạnh khi nói về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà chúng ta chủ trương xây dựng, chính là sự vận dụng về cơ bản toàn bộ các tiêu chí của Nhà nước pháp quyền nói chung và những giá trị riêng của một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Những nghiên cứu khác nhau cho thấy, hệ thống pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có những tiêu chí riêng sau đây:
1. Hướng tới sự bình đẳng, công bằng xã hội
Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không chỉ chú trọng bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của nhân dân và công lý mà còn đặc biệt chú trọng đến sự bình đẳng xã hội, công bằng xã hội. Trong một Nhà nước theo chế độ pháp trị, pháp luật mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền bao gồm một tập hợp các quy định mà nếu thiếu chúng thì không thể có sự cùng tồn tại trong hoà bình và tự do. Với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì giá trị của pháp luật phải bổ sung thêm yếu tố là bình đẳng xã hội, công bằng xã hội. Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không chỉ bảo đảm cá nhân, tổ chức cùng tồn tại trong sự hoà hợp và tự do mà cả trong sự bình đẳng, công bằng xã hội, chống lại mọi sự phân biệt giàu nghèo, sự thống trị của chủ nghĩa tự do cực đoan.
2. Hệ thống pháp luật phải thể hiện được ý trí của toàn dân
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, phục vụ lợi ích của nhân dân. Chính vì vậy, pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải thể hiện được ý chí của nhân dân mà người đại diện là tổ chức chính trị được nhân dân thừa nhận và sự thừa nhận đó đã trở thành nguyên tắc hiến định trong hệ thống pháp luật nước ta. Do đó, pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải là sự thể chế hoá các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Thực tế cho thấy, những thành tựu của quá trình xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam trong hơn 20 năm qua gắn chặt với quá trình hoàn thiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Chính những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, chẳng hạn về phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh, đã làm cơ sở cho sự hình thành những quan điểm và định hướng chiến lược cho sự phát triển của hệ thống pháp luật của đất nước. Văn kiện tập trung nhiều quan điểm và giải pháp chiến lược cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật chính là Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
Xuất phát từ những nghiên cứu toàn diện về hệ thống pháp luật, nhất là những bất cập của nó nhìn từ những yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW, trong đó đã đánh giá: “Hệ thống pháp luật nước ta vẫn còn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống. Cơ chế xây dựng, sửa đổi pháp luật còn nhiều bất hợp lý và chưa được coi trọng đổi mới, hoàn thiện. Tiến độ xây dựng luật và pháp lệnh còn chậm, chất lượng các văn bản chưa cao. Việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên chưa được quan tâm đầy đủ. Hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế. Thiết chế bảo đảm thi hành pháp luật còn thiếu và yếu”. Trong số những nguyên nhân chính của những yếu kém nêu trên Nghị quyết nhấn mạnh đến sự thiếu vắng tầm nhìn chiến lược. Vì vậy, Nghị quyết số 48-NQ/TW đã xác định nhiều quan điểm, định hướng và giải pháp chiến lược cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, với sáu định hướng cho việc xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật mang tính chiến lược và khoa học cao; hai nhóm giải pháp thực hiện có tính khả thi cao (nhóm giải pháp xây dựng pháp luật và nhóm giải pháp thực hiện pháp luật). Từ đó, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là việc xây dựng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội hàng năm và cho nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII có rất nhiều thuận lợi và thực sự đã mang tính định hướng chiến lược sâu sắc. Những nghiên cứu, đánh giá ban đầu ba năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW cho thấy giá trị to lớn của văn bản quan trọng này đối với hệ thống pháp luật nhìn từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu to lớn mà Nghị quyết số 48-NQ/TW mang lại thể hiện rất rõ nét trong lĩnh vực xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế./.