Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Giá cơ sở các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến áp dụng từ ngày 03/02/2018
Trả lời

Ngày 03/02/2018, Liên Bộ Công thương – Tài chính ban hành Công văn số 1073/BCT-TTTN về việc điều hành kinh doanh xăng dầu. Công văn số 1073/BCT-TTTN có hiệu lực kể từ ngày 03/02/2018.

Theo đó, Liên Bộ Công Thương Tài chính công bố giá cơ sở các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường, như sau: Xăng E5 RON92 giá 19.813.000 đồng/lít, tăng 284 đồng so với giá cơ sở kỳ trước; Dầu điêzen 0.05S giá 16.637.000 đồng/lít, tăng 278 đồng so với giá cơ sở kỳ trước; Dầu hỏa giá 15.270 đồng/lít, tăng 250 đồng so với giá cơ sở kỳ trước; Dầu Madút 180CST 3.5S giá 13.085 đồng/kg, tăng 170 đồng so với giá cơ sở kỳ trước.

Trước những diễn biến giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong thời gian gần đây và thực hiện điều hành giá xăng dầu theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, Liên Bộ Công Thương – Tài chính quyết định:

Thứ nhất, trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu: Giữ nguyên mức trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu như hiện hành.

Thứ hai, chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu, cụ thể:        Xăng E5 RON92: 1.141 đồng/lít;       Xăng RON95: 400 đồng/lít; Dầu điêzen: 678 đồng/lít; Dầu hỏa: 710 đồng/lít; Dầu madút: 320 đồng/kg.

Thứ ba, giữ ổn định giá bán tất cả các mặt hàng xăng dầu. Theo đó, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá: Xăng E5 RON92: không cao hơn 18.672 đồng/lít; Dầu điezen 0.05S: không cao hơn 15.959 đồng/lít; Dầu hỏa: không cao hơn 14.560 đồng/lít; Dầu madút 180CST 3.5S: không cao hơn 12.765 đồng/kg.

Thứ tư, thời điểm áp dụng:

– Trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu: Áp dụng từ 15 giờ 00 ngày 03 tháng 02 năm 2018.

– Điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu: Do thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu quy định nhưng không sớm hơn 15 giờ 00 ngày 03 tháng 02 năm 2018 đối với các mặt hàng xăng dầu.

– Kể từ 15 giờ 00 ngày 03 tháng 02 năm 2018, là thời điểm Liên Bộ Công Thương – Tài chính công bố giá cơ sở kỳ công bố tại Công văn này cho đến trước ngày Liên Bộ Công Thương – Tài chính công bố giá cơ sở kỳ kế tiếp, việc điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu do thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu quyết định phù hợp với các quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CPThông tư liên tịch số 39/2014/TTLT-BCT-BTC Thông tư liên tịch số 90/2016/TTLT-BTC-BCT.

Công văn số 1073/BCT-TTTN ban hành góp phần bình ổn giá thị trường xăng dầu dịp giáp Tết Nguyên đán Mậu Tuất.

Bán tài sản công theo hình thức niêm yết giá
Trả lời

Ngày 29/12/2017, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 144/2017/TT-BTC về việc hướng dẫn một số nội dung của Nghị định số 151/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 15/02/2018.

Nội dung nổi bật nhất của Thông tư số 144/2017/TT-BTC là quy định việc bán tài sản công theo hình thức niêm yết giá thông qua hệ thống giao dịch điện tử về tài sản công phải có đầy đủ các thông tin cần thiết như:

– Tên, địa chỉ, điện thoại của cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức bán tài sản;

– Tên tài sản, chủng loại, số lượng, chất lượng của tài sản kèm theo ít nhất 02 hình ảnh của tài sản; giá bán tài sản;

Số tiền đặt trước và hình thức nộp tiền đặt trước;

Địa điểm, thời hạn xem tài sản;

Quy định về người không được tham gia mua tài sản;

Thời hạn đăng ký và nộp tiền đặt trước;

Thời gian lựa chọn người được quyền mua tài sản

Người có nhu cầu mua tài sản đăng ký mua tài sản trực tiếp trên Hệ thống giao dịch điện tử về tài sản công trong thời hạn niêm yết; việc đăng ký mua tài sản được hoàn tất sau khi người có nhu cầu mua tài sản nộp tiền đặt trước theo quy định. Việc nộp tiền đặt trước được thực hiện thông qua ví điện tử hoặc các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật và thông tin đã niêm yết trên Hệ thống giao dịch điện tử về tài sản công

Thông tư này được kỳ vọng là sẽ góp phần quan trọng trong việc minh bạch hóa việc quản lý, sử dụng tài sản công, đặc biệt nhằm hạn chế thất thoát trong việc bán tài sản công.

Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm
Trả lời

Ngày 02/02/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2018/NĐ-CP thay thế Nghị định 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Theo đó, Nghị định 15/2018/NĐ-CP có các nội dung chính như sau:
          1. Quy định chi tiết về các thủ tục: Thủ tục tự công bố sản phẩm; Thủ tục đăng ký bản công bố sản phẩm; Bảo đảm an toàn thực phẩm biến đổi gen; Cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm; Kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu, xuất khẩu; Ghi nhãn thực phẩm; Quảng cáo thực phẩm; Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe; Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh và sử dụng phụ gia thực phẩm; Truy xuất nguồn gốc thực phẩm; Phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Được áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm; tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến an toàn thực phẩm tại Việt Nam.
          2. Phân nhóm các sản phẩm bao gói sẵn phải cấp giấy xác nhận phù hợp, bao gồm:
          – Thực phẩm bảo vệ sức khoẻ, phụ gia thực phẩm hỗn hợp có công dụng mới sẽ đăng ký bản công bố tại Cục An toàn thực phẩm;
          – Sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ đến 36 tháng tuổi được đăng ký bản công bố tại Sở Y tế địa phương;
          – Các sản phẩm còn lại doanh nghiệp tự công bố theo hướng dẫn tại Nghị định này.
          3. Đối với việc kiểm soát thực phẩm nhập khẩu, Nghị định quy định theo hướng giảm tối đa số lô sản phẩm phải kiểm nghiệm, đặc biệt là những sản phẩm đã công bố đăng ký chất lượng và các nhà máy đã có chứng nhận hệ thống GMP, HACCP…, khi nhập khẩu, hải quan chỉ kiểm tra hồ sơ, trừ trường hợp có cảnh báo và sản phẩm ra thị trường mà phát hiện sai phạm thì sẽ đưa vào dạng kiểm soát chặt.
          4. Nghị định cụ thể hóa và bổ sung thêm các đối tượng được miễn kiểm tra như: Sản phẩm mang theo người nhập cảnh, gửi trước hoặc gửi sau chuyến đi của người nhập cảnh để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hoặc mục đích chuyến đi; quà biếu, quà tặng trong định mức miễn thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật về thuế. Sản phẩm, nguyên liệu sản xuất, nhập khẩu chỉ dùng để sản xuất, gia công hàng nhập khẩu hoặc phục vụ cho việc sản xuất nội bộ của tổ chức, cá nhân không tiêu thụ tại thị trường trong nước. Hàng hóa nhập khẩu phục vụ yêu cầu khẩn cấp theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Hàng tạm nhập, tái xuất…
          5. Phụ gia thực phẩm hỗn hợp có công dụng mới phải được đăng ký bản công bố sản phẩm tại Bộ Y tế và phải được liệt kê thành phần định lượng đối với từng phụ gia trong thành phần cấu tạo. Các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm có trách nhiệm chỉ được sử dụng phụ gia thực phẩm trong danh mục các chất phụ gia được phép sử dụng trong thực phẩm do Bộ Y tế quy định.

          6. Các sản phẩm đã được cấp Giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy và Giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm trước ngày Nghị định này có hiệu lực được tiếp tục sử dụng đến khi hết thời hạn ghi trên giấy và hết thời hạn sử dụng của sản phẩm.

Nghị định số 15/2018/NĐ-CP được đánh giá là đã đưa tinh thần cải cách thủ tục quản lý, kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu vào nội dung, giúp giảm tỷ lệ hàng hóa phải kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, tạo khung pháp lý thông thoáng hơn cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

 

Quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Trả lời

Ngày 28/21/2017, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 19/2017/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 12/02/2018, riêng đối với các quy định tại Điều 17 Thông tư 36/2014/TT-NHNN được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 19/2017/TT-NHNN được áp dụng để xác định và tuân thủ tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn kể từ ngày 1/1/2018.

Theo đó, Thông tư 19/2017/TT-NHNN gồm 5 Điều sửa đổi, bổ sung một số giới hạn, tỷ lệ phù hợp với quy định của Luật sửa đổi, bổ sung Luật các Tổ chức tín dụng, gồm giới hạn cấp tín dụng để đầu tư, kinh doanh trái phiếu doanh nghiệp; tỷ lệ mua, đầu tư trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh.

Quy định về giới hạn cấp tín dụng và giới hạn góp vốn, mua cổ phần cũng được sửa đổi thực hiện theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và Luật sửa đổi, bổ sung Luật các Tổ chức tín dụng. Thông tư quy định rõ các Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được cấp tín dụng với thời hạn đến một năm cho khách hàng để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu và khi cấp tín dụng phải đáp ứng các điều kiện: Đảm bảo các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy định; có tỷ lệ nợ xấu dưới 3%; tuân thủ đầy đủ các quy định về quản trị rủi ro theo quy định của pháp luật về cấp tín dụng, hệ thống kiểm soát nội bộ và trích lập đủ số tiền dự phòng rủi ro theo quy định của pháp luật. Đồng thời, tổng mức dư nợ cấp tín dụng để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được vượt quá 5% vốn điều lệ, vốn được cấp.

Một nội dung nổi bật khác trong Thông tư 19/2017/TT-NHNN là Ngân hàng nhà nước nới tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn tối đa áp dụng cho các ngân hàng thương mại từ 40% lên 45% kể từ ngày 1-1-2018.

Thông tư 19/2017/TT-NHNN cũng sửa đổi một số nội dung quan trọng khác như sửa đổi, bổ sung cấu phần và cách xác định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; cách xác định tỷ lệ khả năng chi trả…; bổ sung một số nội dung về giải thích từ ngữ; quy định nội bộ, hướng dẫn chi tiết, quy định cách xác định, cấu phần một số tỷ lệ bảo đảm an toàn và quy định chuyển tiếp.

Những nội dung sửa đổi tại Thông tư hướng tới việc quy định chặt chẽ hơn việc cấp tín dụng, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Tuy nhiên, ở một chiều hướng khác, việc Thông tư nới lỏng tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn tối đa áp dụng cho các ngân hàng thương mại là đi ngược lại với thông lệ quốc tế, có thể tạo ra rủi ro tiềm ẩn cho cả hệ thống trong tương lai, đồng thời tạo ra sức ỳ và sự lệ thuộc của các doanh nghiệp khi không tự nâng cao giá trị bản thân để có thể tiếp cận được với nguồn vốn rất dài hạn trên thị trường chứng khoán.

Giám định tư pháp trong giải quyết vụ án về tham nhũng, kinh tế
Trả lời

Ngày 13/12/2017, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ công an, Bộ tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP quy định những trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định tư pháp trong giải quyết vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế. Thông tư này có hiệu lực từngày 01/2/2018.

Theo đó, Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP có những quy định đáng chú ý như sau:

Về trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định gồm:

  1. Trường hợp khi cần xác định chất lượng, nguồn gốc, xuất xứ của tài sản, hàng hóa, hàng giả, hàng thật, hàng cấm;

  2. Trường hợp khi cần truy nguyên về tài liệu, đồ vật, chữ ký, chữ viết, con dấu, dấu vết, dữ liệu điện tử;

  3. Trường hợp khi cần xác định tính chính xác của các dụng cụ cân, đo, đong, đếm và các máy móc, thiết bị khác.

  4. Trường hợp khi cần xác định hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đầu tư, gồm: Về lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư; quyết định đầu tư dự án; về đấu thầu; về khảo sát, tư vấn thiết kế, thi công, giám sát, nghiệm thu, thanh quyết toán; về quản lý vốn đầu tư như tạm ứng vốn không đúng quy định; sử dụng vốn thi công không đúng mục đích; bảo lãnh cho vay vốn, tạm ứng vốn, thực hiện hợp đồng hoặc điều chuyển vốn cho vay; cho vay vốn không đúng chế độ; hành vi khác vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đầu tư.

Bên cạnh đó, Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP cũng quy định trường hợp gặp khó khăn, vướng mắc trong việc xác định mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đầu tư gây ra, thì mức độ thiệt hại được xác định theo nguyên tắc lấy tổng chi phí đầu tư dự án trừ đi chi phí hợp lý, hợp lệ hoặc được xác định theo một hoặc trong các cách thức như sau:

  1. Xác định theo tiền lãi suất ngân hàng của khoản tiền đã tạm ứng vốn mà sử dụng khoản tiền này không đúng mục đích dẫn đến không có khả năng thu hồi hoặc làm mất vốn đầu tư;

  2. Xác định theo khoản chi phí phát sinh về tiền lãi vay của khoản vốn đã đầu tư và các chi phí khác đối với dự án kể từ khi dự án ngừng thi công hoặc ngừng hoạt động;

  3. Xác định theo tổng mức đầu tư phải điều chỉnh tăng lên so với tổng mức đầu tư ban đầu mà nguyên nhân do có hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến phải kéo dài thời gian thực hiện dự án hoặc làm chậm tiến độ thực hiện dự án…

Thông tư này cũng quy định rõ việc trưng cầu giám định, đánh giá, sử dụng kết luận giám định trong giải quyết vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật, tuân theo quy chuẩn chuyên môn nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án, vụ việc được chính xác, khách quan và đúng pháp luật.

Việc ban hành Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP có vai trò rất quan trọng trong việc quản lý và chi tiết hóa các quy định về hoạt động giám định tư pháp, qua đó phục vụ đắc lực cho hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vụ án được chính xác, khách quan, đúng pháp luật, đặc biệt là trong thời điểm mà các luật chuyên ngành hiện nay chưa có quy định về hoạt động này một cách cụ thể.

Hướng dẫn một số Điều của Luật Du lịch năm 2017
Trả lời

Ngày 15/12/2017, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư số 06/2017/TT-BVHTTDL quy định chi tiết một số Điều của Luật Du lịch 2017. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/02/2018.

Theo đó, Thông tư số 06/2017/TT-BVHTTDL có một số nội dung nổi bật như sau:

Thứ nhất, quy định cụ thể Người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành của tổ chức kinh doanh dịch vụ lữ hành gồm các chức danh:

  1. Chủ tịch hội đồng quản trị;

  2. Chủ tịch hội đồng thành viên;

  3. Chủ tịch công ty;

  4. Chủ doanh nghiệp tư nhân;

  5. Tổng giám đốc/Giám đốc hoặc phó Giám đốc;

  6. Trưởng bộ phận kinh doanh dịch vụ lữ hành.

Thứ hai, chi tiết hóa quy định về thuật ngữ “Chuyên ngành lữ hành” trong quy định về điều kiện năng lực của Người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành. Theo đó, “Chuyên ngành lữ hành” sẽ bao gồm một trong các chuyên ngành:

  1. Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành;

  2. Quản trị lữ hành;

  3. Điều hành tour du lịch;

  4. Marketing du lịch;

  5. Du lịch;

  6. Du lịch lữ hành;

  7. Quản lý và kinh doanh du lịch.

Thứ ba, giải thích tiêu chuẩn “Thành thạo ngoại ngữ” của hướng dẫn viên du lịch quốc tế phải đáp ứng một trong các tiêu chuẩn:

  1. Có bằng tốt nghiệp cao đẳng trở lên chuyên ngành ngoại ngữ;

  2. Có bằng tốt nghiệp cao đẳng trở lên theo chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài;

  3. Có bằng tốt nghiệp cao đẳng trở lên ở nước ngoài;

  4. Có chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận ngoại ngữ bậc 4 trở lên Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc B2 trở lên Khung tham chiếu trình độ ngoại ngữ chung Châu Âu, còn thời hạn hoặc được cấp trong vòng 05 năm đối với chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận ngoại ngữ không quy định thời hạn, do tổ chức, cơ quan có thẩm quyền cấp đạt mức yêu cầu theo quy định tại Phụ lục I Thông tư số 06/2017/TT-BVHTTDL.

Thứ tư, quy định tiêu chuẩn cấp biển hiệu đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch đối với các cơ sở kinh doanh, cụ thể:

  1. Tiêu chuẩn đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ mua sắm đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch;

  2. Tiêu chuẩn đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch;

  3. Tiêu chuẩn đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ thể thao đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch;

  4. Tiêu chuẩn đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ vui chơi, giải trí đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch;

  5. Tiêu chuẩn đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ chăm sóc sức khỏe đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch.

Thứ năm, Thông tư cũng quy định rõ trình tự, thủ tục thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ lũ hành trong trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành, giải thể hoặc phá sản; và các trường hợp khác theo quy định của Luật Du lịch.

Việc ban hành Thông tư số 06/2017/TT-BVHTTDL có ý nghĩa quan trọng, không chỉ quy định chi tiết và thống nhất việc thi hành các quy định của Luật Du lịch năm 2017, mà qua đó còn góp phần nâng cao tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ cũng như thúc đẩy sự phát triển của các hoạt động du lịch.

Quy định mới về bảo đảm kỹ thuật nhiên liệu hàng không
Trả lời

Ngày 23/01/2018, Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Thông tư số 04/2018/TT-BGTVT quy định về việc bảo đảm kỹ thuật nhiên liệu hàng không. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15/04/2018.

Theo đó, Thông tư số 04/2018/TT-BGTVT quy định về yêu cầu kỹ thuật đối với nhiên liệu hàng không, hệ thống kho nhiên liệu hàng không, hệ thống tra nạp nhiên liệu hàng không ngầm, phương tiện vận chuyển nhiên liệu hàng không, phương tiện tra nạp, hút nhiên liệu hàng không và công tác vận hành hệ thống nhiên liệu hàng không đảm bảo an toàn chất lượng trong cung ứng nhiên liệu hàng không dân dụng tại Việt Nam, cụ thể:

Về tiêu chuẩn kỹ thuật của nhiên liệu hàng không:

  1. Nhiên liệu phản lực tuốc bin hàng không Jet A-1 phải đáp ứng các yêu cầu chi tiết tại danh mục AFQRJOS của tài liệu JIG.

  2. Xăng tàu bay (Avgas – 100 và 100LL) phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng theo phiên bản hiện hành của hai tiêu chuẩn Def Stan 91-091 (Anh), ASTM D 910 (Mỹ).

Về việc kiểm tra vi sinh và hàm lượng este metyl axit béo (FAME) trong nhiên liệu hàng không:

  1. Kiểm tra vi sinh vật phát triển trong nhiên liệu hàng không: phải tuân thủ theo tiêu chuẩn trong Tổ chức kiểm tra chung (JIG) 1, JIG 2, Viện Năng lượng/Tổ chức kiểm tra chung EI/JIG 1530, đánh giá mức chấp nhận và khắc phục theo thông cáo của các vật liệu thử nghiệm vi sinh đã được Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (IATA) phê chuẩn.

  2. Kiểm tra hàm lượng FAME trong nhiên liệu phản lực: phải kiểm soát chặt chẽ FAME nhiễm bẩn vào nhiên liệu hàng không trong cả chuỗi cung ứng, phải có các quy trình đảm bảo chất lượng để tăng kiểm soát, giảm rủi ro. Trong trường hợp không thể kiểm soát bằng quy trình phải thử nghiệm theo JIG – Bulletin mới nhất về giới hạn FAME cho phép. Phải thử nghiệm hàm lượng FAME bằng phương pháp đã được phê duyệt theo tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 04/2018/TT-BGTVT.

Về yêu cầu kỹ thuật kho nhiên liệu hàng không:

Kho nhiên liệu hàng không, bể chứa, trạm tiếp nạp, hệ thống đường ống khi thiết kế, xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, sửa chữa phải được áp dụng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện hành hoặc tiêu chuẩn quốc tế tương đương quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 04/2018/TT-BGTVT. Trường hợp xây dựng cải tạo kho sân bay phải thực hiện các thủ tục theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải về quản lý và khai thác cảng hàng không, sân bay.

Kho nhiên liệu hàng không phải đảm bảo tiếp nhận hết lượng hàng theo kế hoạch đã định và cấp phát liên tục, phục vụ kịp thời nhu cầu kinh doanh, đảm bảo an toàn chất lượng nhiên liệu theo nguyên tắc: bể đang cấp phát phải độc lập hoàn toàn với các bể đang ổn định, chờ cấp phát và bể đang tiếp nhận hoặc chờ tiếp nhận.

Kho nhiên liệu hàng không phải có các hệ thống xử lý các chất thải, hệ thống thu gom, xử lý dầu thải, dầu tràn, nước có khả năng nhiễm dầu và các chất thải này phải được xử lý theo quy định về bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ.

Ngoài ra, Thông tư số 04/2018/TT-BGTVT cũng quy định trạm bơm nhiên liệu hàng không phải được thiết kế phù hợp với thiết kế kho xăng dầu. Mỗi chủng loại nhiên liệu hàng không phải có một hoặc một nhóm máy bơm nhập, máy bơm xuất độc lập nhau và độc lập với các máy bơm nhiên liệu khác, số lượng máy bơm nhập và xuất phải được tính toán theo nhu cầu nhập, xuất cụ thể của từng kho và phải có máy bơm dự phòng.

Có thể thấy, Thông tư số 04/2018/TT-BGTVT quy đinh rất cụ thể và chi tiết về việc đảm bảo kỹ thuật nhiên liệu hàng không, qua đó góp phần nâng cao sự an toàn chất lượng trong cung ứng nhiên liệu hàng không dân dụng, đồng thời tăng cường vai trò của quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này.

Phê duyệt Dự án “Điều tra, đánh giá, phân loại và xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn thải”
Trả lời

Ngày 26/01/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 140/QĐ-TTg phê duyệt Dự án “Điều tra, đánh giá, phân loại và xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn thải”. Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký.

Theo đó, Dự án “Điều tra, đánh giá, phân loại và xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn thải” sẽ thực hiện trong 03 năm (2018 – 2021), gồm 03 nhiệm vụ chính:

  1. Điều tra, đánh giá, phân loại nguồn thải trên phạm vi toàn quốc;

  2. Xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn thải;

  3. Rà soát, xây dựng, ban hành văn bản pháp luật, quy định để quản lý, khai thác, vận hành, cập nhật, sử dụng thông tin, cơ sở dữ liệu về nguồn thải.

Bên cạnh đó,  theo Quyết định số 140/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo triển khai các giải pháp thực hiện Dự án gồm: 

  1. Xác định cụ thể tiêu chí và xây dựng phương án để điều tra, đánh giá, phân loại nguồn thải bảo đảm việc thực hiện đầy đủ, chính xác, khoa học và hiệu quả, đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu đề ra;

  2. Thực hiện điều tra, đánh giá, phân loại nguồn thải trên cơ sở kế thừa kết quả hoạt động tổng điều tra kinh tế năm 2017 và các cuộc điều tra khác có liên quan.

Ngoài ra, kinh phí thực hiện Dự án sẽ do Ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định hiện hành của Luật Ngân sách nhà nước và được bố trí từ nguồn ngân sách sự nghiệp bảo vệ môi trường của Trung ương, địa phương; đồng thời có thể huy động thêm từ các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Các Bộ, các địa phương được giao nhiệm vụ thực hiện Dự án, căn cứ nội dung, nhiệm vụ được phân công xây dựng dự toán kinh phí, thẩm định, phê duyệt theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Thông qua Quyết định số 140/QĐ-TTg, việc phê duyệt Dự án “Điều tra, đánh giá, phân loại và xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn thải” sẽ là cơ sở tiền đề quan trọng để tập hợp, thống kê toàn bộ nguồn thải trên phạm vi toàn quốc, qua đó sẽ góp phần tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong thời gian tới.

Áp dụng lãi suất cho vay đặc biệt 0% đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt
Trả lời

Ngày 26/01/2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 01/2018/TTNHNN quy định về cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 29/01/2018.

Theo đó, Thông tư số 01/2018/TTNHNN quy định về cho vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam, tổ chức tín dụng khác đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt.

Cụ thể, Thông tư này quy định rõ, NHNN cho vay đặc biệt đối với trong các trường hợp:

Thứ nhất, cho vay đặc biệt để hỗ trợ thanh khoản đối với tổ chức tín dụng khi tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả, đe dọa sự ổn định của hệ thống trong thời gian tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, bao gồm cả trường hợp tổ chức tín dụng đang thực hiện phương án cơ cấu lại đã được phê duyệt;

Thứ hai, cho vay đặc biệt với lãi suất ưu đãi đến mức 0% để hỗ trợ phục hồi đối với ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, công ty tài chính, tổ chức tài chính vi mô theo phương án phục hồi đã được phê duyệt;

Thứ ba, cho vay đặc biệt với lãi suất ưu đãi đến mức 0% để hỗ trợ phục hồi đối với ngân hàng thương mại theo phương án chuyển giao bắt buộc đã được phê duyệt;

Thứ tư, cho vay đặc biệt với lãi suất ưu đãi đến mức 0% đối với ngân hàng thương mại đã được mua bắt buộc trước ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010có hiệu lực theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Cho vay đặc biệt với lãi suất ưu đãi đến mức 0% đối với ngân hàng thương mại đã được mua bắt buộc trước ngày Luật số 17/2017/QH14 có hiệu lực sau chuyển nhượng theo phương án chuyển nhượng đã được phê duyệt.

Bên cạnh đó, Thông tư số 01/2018/TTNHNN cũng quy định về việc Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt. Trong đó, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cho vay đặc biệt theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước với lãi suất ưu đãi đến mức 0% để hỗ trợ thanh khoản đối với công ty tài chính, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô từ Quỹ dự phòng nghiệp vụ khi công ty tài chính, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả, đe dọa sự ổn định của hệ thống trước khi phương án cơ cấu lại được phê duyệt;

Ngoài ra, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam cho vay đặc biệt theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước với lãi suất ưu đãi đến mức 0% để hỗ trợ thanh khoản đối với quỹ tín dụng nhân dân từ Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân khi quỹ tín dụng nhân dân có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả, đe dọa sự ổn định của hệ thống trước khi phương án cơ cấu lại được phê duyệt; Cho vay đặc biệt với lãi suất ưu đãi đến mức 0% để hỗ trợ phục hồi đối với quỹ tín dụng nhân dân từ Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân theo phương án phục hồi đã được phê duyệt.

Đối với Tổ chức tín dụng khác, việc cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt trong các trường hợp cho vay đặc biệt để hỗ trợ thanh khoản đối với tổ chức tín dụng khi tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả, đe dọa sự ổn định của hệ thống trong thời gian tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, bao gồm cả trường hợp tổ chức tín dụng đang thực hiện phương án cơ cấu lại đã được phê duyệt; Cho vay đặc biệt để hỗ trợ phục hồi đối với tổ chức tín dụng theo phương án phục hồi, phương án chuyển giao bắt buộc đã được phê duyệt.

Có thể thấy, Thông tư số 01/2018/TTNHNN đã tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn đối với các tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, nhất là trong giai đoạt khắc phục khó khăn, qua đó góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống cũng như nâng cao hiệu quả của quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này.

Quy định chi tiết về hoạt động thương mại biên giới
Trả lời

Ngày 23/01/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 14/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động thương mại biên giới. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó, Nghị định số 14/2018/NĐ-CP quy định chi tiết các hoạt động thương mại biên giới quy định tại Điều 53 và Điều 54 Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của thương nhân, cư dân biên giới; các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa và các hoạt động liên quan đến mua bán, trao đổi hàng hóa quy định trong Điều ước Quốc tế giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nước có chung biên giới (bao gồm Trung Quốc, Lào và Campuchia), cụ thể như sau:

Đối với hoạt động thương mại biên giới của thương nhân

Hàng hóa mua bán, trao đổi qua biên giới của thương nhân phải tuân thủ các quy định của pháp luật, điều ước quốc tế về kiểm dịch y tế; kiểm dịch động vật, thực vật, kiểm dịch thủy sản; kiểm tra chất lượng hàng hóa; kiểm tra về an toàn thực phẩm. Thương nhân hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế, phí, lệ phí theo quy định của pháp luật. Hàng hóa mua bán, trao đổi qua biên giới được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Hàng hóa xuất khẩu dưới hình thức mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới của thương nhân quy định tại Nghị định này được hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật. Thuế, phí và lệ phí trong hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới của thương nhân được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Đối với hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới

Cư dân biên giới khi mua bán, trao đổi hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới do Bộ Công thương ban hành được hưởng định mức miễn thuế theo Phụ lục V Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Phần giá trị hàng hóa vượt định mức quy định ở trên phải chịu thuế nhập khẩu và các loại thuế, phí khác (nếu có) theo quy định của pháp luật. Nghị định nêu rõ hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới không phải thực hiện kiểm dịch y tế, trừ trường hợp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thông báo có dịch bệnh truyền nhiễm, nguy cơ dịch bệnh truyền nhiễm xảy ra thì phải kiểm dịch y tế. Hàng hóa thuộc diện phải kiểm dịch động vật, thực vật và kiểm dịch thủy sản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công bố trong từng thời kỳ phải được kiểm dịch theo quy định của pháp luật. Hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới không phải kiểm tra, kiểm soát về chất lượng, an toàn thực phẩm, trừ trường hợp mua gom.

Đối với hoạt động kinh doanh tại chợ biên giới

Hàng hóa được mua bán, trao đổi phải là hàng hóa được phép lưu thông trên thị trường Việt Nam và phải tuân thủ các quy định của pháp luật, điều ước quốc tế về kiểm dịch y tế; kiểm dịch động vật, thực vật, kiểm dịch thủy sản; kiểm tra chất lượng hàng hóa; kiểm tra về an toàn thực phẩm. Thuế, phí và lệ phí trong hoạt động kinh doanh tại chợ biên giới được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Bằng việc ban hành Nghị định số 14/2018/NĐ-CP, Chính phủ đã tạo ra khung pháp lý phù hợp với đặc thù của hoạt động thương mại biên giới so với các hoạt động xuất nhập khẩu thông thường nhằm thúc đẩy, phát huy tiềm năng, lợi thế của hoạt động này. Đặc biệt với một quốc gia có nhiều cửa khẩu như Việt Nam, hoạt động thương mại biên giới phát triển mạnh sẽ là “đòn bẩy” động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng trên những địa bàn biên giới.