Ngày 23/03/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 236/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển giao thông vận tải hàng không giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đưa ra quan điểm phát triển như sau:
– Quy hoạch phát triển giao thông vận tải hàng không phù hợp với chiến lược phát triển giao thông vận tải Việt Nam;
– Phát triển bền vững, đồng bộ ngành hàng không dân dụng Việt Nam, đảm bảo an toàn, an ninh hàng không, nâng cao năng lực cạnh tranh, chất lượng dịch vụ ngang tầm khu vực và quốc tế;
– Phát triển kết cấu hạ tầng hệ thống cảng hàng không và hệ thống quản lý đảm bảo hoạt động bay tiên tiến, hiện đại, đồng bộ theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO).
Về mục tiêu: Đến năm 2030 thị trường vận tải hàng không Việt Nam đứng trong nhóm 04 quốc gia hàng đầu ASEAN về sản lượng vận chuyển.
Về mạng cảng hàng không: Đến năm 2020, khai thác hệ thống 23 cảng hàng không gồm 13 cảng hàng không quốc nội và 10 cảng hàng không quốc tế. Đến năm 2030, khai thác hệ thống 28 cảng hàng không gồm 15 cảng hàng không quốc nội và 13 cảng hàng không quốc tế.
Về mạng đường bay: Đến năm 2030, phát triển mạng đường bay theo mô hình vận tải đa phương thức, đảm bảo việc phát triển cân đối, thiết lập sự liên kết giữa các loại hình vận tải với nhau.
Về đội tàu bay Việt Nam: Tập trung phát triển và khai thác đội tàu bay gồm các loại tàu bay mới, trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại.
Về việc quản lý: Bảo đảm hoạt động bay, tiếp tục đầu tư để duy trì năng lực nâng cao độ tin cậy và hiện đại hoá các cơ sở vật chất – kỹ thuật điều hành bay ở mức độ hàng đầu trong khu vực Châu Á.
Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ cũng chỉ đạo tập trung phát triển về nguồn nhân lực, cơ sở đào tạo, chỉ đạo Bộ Giao thông vận tải cùng phối hợp với các bộ, ngành khác có liên quan tổ chức quản lý, triển khai và thực hiện chủ trương của Chính phủ về phát triển vận tải hàng không.
Với tầm nhìn chiến lược cùng các kế hoạch và hướng đi cụ thể, Quyết định số 236/QĐ-TTg được kỳ vọng sẽ góp phần phát triển ngành vận tải tải hàng không nói riêng cũng như góp phần vào sự phát triển giao thông vận tải của việt nam nói chung, đồng thời sẽ góp phần tăng cường sự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực này.
Ngày 23/02/2018 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 23/2018/NĐ-CP quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc. Nghị định này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 15/4/2018.
Theo đó, Nghị định số 23/2018/NĐ-CP có một số điểm mới như sau:
1. Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc là toàn bộ tài sản của cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ, bao gồm:
– Nhà, công trình và các tài sản gắn liền với nhà, công trình; máy móc, thiết bị.
– Các loại hàng hóa, vật tư (bao gồm cả nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm).
2. Mức phí bảo hiểm
Đối với cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ (trừ cơ sở hạt nhân) có tổng số tiền bảo hiểm của các tài sản tại một địa điểm dưới 1.000 tỷ đồng thì mức phí bảo hiểm được xác định bằng số tiền bảo hiểm tối thiểu nhân với tỷ lệ phí bảo hiểm quy định tại Nghị định. Trên cơ sở mức phí bảo hiểm quy định tại điểm này, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm có thể thỏa thuận tăng mức phí bảo hiểm áp dụng đối với từng cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ căn cứ vào mức độ rủi ro của từng cơ sở và theo quy định pháp luật.
Đối với cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ có tổng số tiền bảo hiểm của các tài sản tại một địa điểm từ 1.000 tỷ đồng trở lên và cơ sở hạt nhân thì doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm thỏa thuận mức phí bảo hiểm theo quy định pháp luật và trên cơ sở được doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm chấp thuận.
3. Các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
Đối với cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ nêu tại khoản 1 Điều 2 Nghị định này (trừ cơ sở hạt nhân), doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường bảo hiểm trong các trường hợp sau:
– Động đất, núi lửa phun hoặc những biến động khác của thiên nhiên.
– Thiệt hại do những biến cố về chính trị, an ninh và trật tự an toàn xã hội gây ra.
– Tài sản bị đốt cháy, làm nổ theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
– Tài sản tự lên men hoặc tự tỏa nhiệt; tài sản chịu tác động của một quá trình xử lý có dùng nhiệt.
– Sét đánh trực tiếp vào tài sản được bảo hiểm nhưng không gây cháy, nổ.
– Nguyên liệu vũ khí hạt nhân gây cháy, nổ.
– Máy móc, thiết bị điện hay các bộ phận của thiết bị điện bị thiệt hại do chịu tác động trực tiếp của việc chạy quá tải, quá áp lực, đoản mạch, tự đốt nóng, hồ quang điện, rò điện do bất kỳ nguyên nhân nào, kể cả do sét đánh.
– Thiệt hại do hành động cố ý gây cháy, nổ của người được bảo hiểm; do cố ý vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy và là nguyên nhân trực tiếp gây ra cháy, nổ.
– Thiệt hại đối với dữ liệu, phần mềm và các chương trình máy tính.
– Thiệt hại do đốt rừng, bụi cây, đồng cỏ, hoặc đốt cháy với mục đích làm sạch đồng ruộng, đất đai.
Đối với cơ sở hạt nhân: Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm thỏa thuận về các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trên cơ sở được doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm chấp thuận.
4. Bồi thường bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện xem xét, giải quyết bồi thường bảo hiểm theo quy định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm và theo nguyên tắc sau:
– Số tiền bồi thường bảo hiểm đối với tài sản bị thiệt hại không vượt quá số tiền bảo hiểm của tài sản đó (đã được thỏa thuận và ghi trong hợp đồng bảo hiểm, Giấy chứng nhận bảo hiểm), trừ đi mức khấu trừ bảo hiểm quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định này.
– Giảm trừ tối đa 10% số tiền bồi thường bảo hiểm trong trường hợp cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ không thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn các kiến nghị tại Biên bản kiểm tra an toàn về phòng cháy, chữa cháy của cơ quan Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy, dẫn đến tăng thiệt hại khi xảy ra cháy, nổ.
– Không có trách nhiệm bồi thường bảo hiểm đối với những khoản tiền phát sinh, tăng thêm do hành vi gian lận bảo hiểm theo quy định tại Bộ luật hình sự.
Với những quy định chi tiết và cụ thể, Nghị định số 23/2018/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ giải quyết những về vấn đề bảo hiểm cháy nổ bắt buộc thực tiễn đang gặp nhiều vướng mắc.
Ngày 23/01/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 12/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 01/2015/NĐ-CP ngày 02/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết phạm vi hoạt động hải quan; trách nhiệm phối hợp trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Nghị định này sẽ có hiệu lực kể từ ngày 10/03/2018.
Theo đó, Nghị định số 12/2018/NĐ-CP quy định những điểm mới nổi bật như sau:
1. Bổ sung nội dung phạm vi địa bàn hoạt động Hải quan tại tại khu vực chuyển phát nhanh hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là địa điểm tập kết, kiểm tra, giám sát tập trung đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua dịch vụ chuyển phát nhanh được quy định tại Điều 7 Nghị định số 01/2015/NĐ-CP ngày 02/01/2015.
2. Bổ sung nội dung Phạm vi cụ thể địa bàn hoạt động hải quan tại các khu vực ngoài cửa khẩu tại các khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu có doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chịu sự giám sát, kiểm sát hải quan; Khu thương mại tự do, khu chế xuất; Trụ sở, kho hàng của doanh nghiệp; Khu phi thuế quan; Khu vực ưu đãi hải quan khác; Khu vực hải quan riêng được quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 01/2015/NĐ-CP ngày 02/01/2015.
3. Bổ sung nội dung Nội dung lập hồ sơ xử lý vi phạm trong công tác phối hợp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới quy định tại Khoản 3 Điều 11 Nghị định số 01/2015/NĐ-CP ngày 02/01/2015.
4. Về phối hợp ngăn chặn, điều tra, lập hồ sơ và xử lý vi phạm, Nghị định mới sửa đổi, bổ sung quy định cơ quan Hải quan trong phạm vi địa bàn hoạt động của đơn vị có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát Biển, Công an, Quản lý thị trường và các cơ quan hữu quan khác thực hiện các biện pháp ngăn chặn, điều tra, lập hồ sơ và xử lý vi phạm liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu khi có yêu cầu.
Thêm vào đó, trong quá trình thực hiện các biện pháp ngăn chặn, điều tra, lập hồ sơ và xử lý vi phạm, theo đề nghị của cơ quan Hải quan thì các cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát Biển, Quản lý thị trường và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm cùng phối hợp lực lượng, hỗ trợ điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện khám người, phương tiện vận tải, đồ vật, nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo thủ tục hành chính và áp giải người vi phạm.
Các đơn vị cũng có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ lực lượng, phương tiện trong việc lấy lời khai, thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ, mở rộng điều tra, xác lập chuyên án; Phối hợp trong việc lập hồ sơ và xử lý các vụ việc vi phạm.
Ngoài ra, Nghị định số 12/2018/NĐ-CP cũng bổ sung quy định phối hợp trong công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật. Cụ thể, trong phạm vi địa bàn hoạt động Hải quan, căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan Hải quan chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan công an, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, quản lý thị trường và các cơ quan hữu quan khác tổ chức tuyên truyền phổ biến chính sách, pháp luật liên quan đến công tác phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
Về phạm vi địa bàn hoạt động Hải quan tại khu vực cửa khẩu đường bộ, đường thủy nội địa trong khu vực biên giới quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 01/2015/NĐ-CP ngày 02/1/2015 của Chính phủ cũng được thay thế bằng Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 12/2018/NĐ-CP.
Có thể thấy, các quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định về phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; trách nhiệm phối hợp trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới tại Nghị định số 12/2018/NĐ-CP là những điều chỉnh cụ thể và và kịp thời nhằm phát huy hiệu quả công tác phòng chống buôn lậu hàng hóa trái phép của cơ quan hải quan và sự phối hợp giữa các phòng ban liên quan trong ngăn chặn, điều tra, lập hồ sơ và xử lý vi phạm
Ngày 23/02/2018 Ngân hàng nhà nước đã ban hành Thông tư số 03/2018/TT- NHNN về cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô. Thông tư này sẽ có hiệu lực kể từ ngày 15/04/2018.
Theo đó, điều kiện cơ bản để thành lập tổ chức tài chính vi mô bao gồm:
1. Có vốn điều lệ tối thiểu bằng mức vốn pháp định theo quy định (05 tỷ đồng);
2. Có chủ sở hữu, thành viên sáng lập theo quy định tại Điều 8 Thông tư này;
3. Có người quản lý, điều hành, Ban kiểm soát đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định tại Điều 20, 21, 22, 23 Thông tư này;
4. Có Điều lệ phù hợp với quy định tại Điều 31 Luật các tổ chức tín dụng và quy định pháp luật liên quan;
5. Có Đề án thành lập, phương án kinh doanh khả thi trong 03 năm đầu hoạt động.
Đối với chủ sở hữu, thành viên sáng lập tổ chức tài chính vi mô phải đáp ứng các điều kiện sau:
1. Có ít nhất một thành viên sáng lập là tổ chức chính trị hoặc tổ chức chính trị – xã hội;
2. Có ít nhất một thành viên sáng lập là tổ chức đã hoặc đang trực tiếp tham gia quản lý hoặc điều hành chương trình, dự án tài chính vi mô hoạt động an toàn, bền vững trong ít nhất 03 (ba) năm liên tiếp trước thời điểm nộp đơn đề nghị cấp Giấy phép;
3. Không phải là cổ đông sáng lập, chủ sở hữu, thành viên sáng lập, cổ đông chiến lược của tổ chức tín dụng khác tại Việt Nam.
Thông tư số 03/2018/TT-NHNN sẽ thay thế các quy định về tổ chức tài chính vi mô tại Luật Các tổ chức tín dụng, ngoài ra Thông tư cũng quy định chi tiết hơn về điều kiện cấp phép, trình tự thủ tục cấp phép, qua đó góp phần hạn chế những bất cập không đáng có trên thực tiễn trước kia về thành lập là hoạt động tổ chức tài chính vi mô.
Ngày 19/12/2017, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 134/2017/TT-BTC hướng dẫn giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/3/2018.
Theo đó, Thông tư số 134/2017/TT-BTC có những nội dung đáng chú ý như:
Đối tượng áp dụng: Bổ sung thêm các đối tượng như thành viên bù trừ, thành viên lưu ký, văn phòng đại diện, ngân hàng thương mại, đại lý phân phối chứng chỉ quỹ.
Yêu cầu về dịch vụ: Bổ sung quy định yêu cầu về dịch vụ đối với Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) và Trung tâm lưu ký chứng khoán (VSD), bổ sung và thay thế một số nội dung về yêu cầu dịch vụ đối với công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ.
Quy định về an ninh bảo mật thông tin và lưu trữ dữ liệu: Bổ sung các yêu cầu về an toàn bảo mật thông tin và lưu trữ dữ liệu trong giao dịch chứng khoán trực tuyến. Hệ thống phần mềm trước khi đưa vào sử dụng phải được rà soát, quét lỗ hổng bảo mật, định kỳ thực hiện đánh giá rủi ro an toàn thông tin mạng.
Quy định về xác thực danh tính của nhà đầu tư, về phiếu lệnh điện tử, sử dụng chứng thư số, chữ ký số: Bổ sung quy định về xác thực và phiếu lệnh điện tử. Theo đó, Thông tư mới đã quy định các giải pháp xác thực danh tính của nhà đầu tư bao gồm: xác thực hai yếu tố, xác thực bằng chứng thư số và các giải pháp xác thực khác được pháp luật cho phép và phù hợp với các quy định của cơ quan có thẩm quyền.
Quy định về thủ tục chấp thuận đăng ký cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến: Hồ sơ đăng ký đã rút gọn lại còn 4 đầu mục tài liệu và bỏ đầu mục tài liệu Giấy chứng nhận kiểm định về tính an toàn chất lượng của hệ thống. Đồng thời, thời gian giải quyết thủ tục cũng được rút ngắn xuống còn 20 ngày làm việc.
Có thể thấy, Thông tư số 134/2017/TT-BTC đã có những thay đổi đáng kể so với các thông tư trước đây. Sự thay đổi này là cần thiết để đảm bảo phù hợp với tốc độ phát triển của công nghệ thông tin, đáp ứng các yêu cầu về thực hiện giao dịch điện tử từ phía Doanh nghiệp và các Nhà đầu tư, cũng như thực hiện đúng lộ trình giảm thiểu thủ tục hành chính của Cơ quan Nhà nước.
Ngày 29/12/2017, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 26/2017/TT-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định về hoạt động thẻ ngân hàng. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 3/3/2018.
Theo đó, Thông tư số 26/2017/TT-NHNN có nhiều nội dung đáng chú ý như:
Đối với hạn mức rút ngoại tệ tiền mặt tại nước ngoài: Một thẻ được rút số ngoại tệ tiền mặt tối đa tương đương 30 triệu đồng Việt Nam trong một ngày.
Đối với hạn mức thẻ tín dụng đối với cá nhân quy định tại Luật các Tổ chức tín dụng (sửa đổi): Trường hợp phát hành thẻ tín dụng có tài sản bảo đảm thì hạn mức tín dụng cấp cho chủ thẻ do tổ chức phát hành thẻ xác định theo quy định nội bộ về cấp tín dụng qua thẻ tín dụng và tối đa là 1 tỷ đồng Việt Nam. Trường hợp phát hành thẻ tín dụng không có tài sản bảo đảm, hạn mức tín dụng cấp cho chủ thẻ tối đa là 500 triệu đồng Việt Nam.
Về đối tượng sử dụng thẻ: Thông tư quy định người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự được sử dụng thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước. Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự được người đại diện theo pháp luật của người đó đồng ý bằng văn bản về việc sử dụng thẻ được sử dụng thẻ ghi nợ, thẻ trả trước.
Giám sát thanh toán thẻ tại nước ngoài: Thông tư quy định tổ chức phát hành thẻ phải áp dụng tối thiểu hai hình thức tiếp nhận thông tin tra soát, khiếu nại của chủ thẻ bao gồm qua tổng đài điện thoại (có ghi âm, hoạt động 24/24 giờ trong ngày, 7/7 ngày trong tuần) và qua các điểm giao dịch của tổ chức phát hành thẻ. Tổ chức phát hành thẻ phải thực hiện ngay các biện pháp để khóa thẻ khi chủ thẻ đề nghị do nghi ngờ có gian lận hoặc tổn thất và chịu trách nhiệm với toàn bộ tổn thất tài chính phát sinh đối với chủ thẻ do việc sử dụng thẻ sau thời điểm khóa thẻ.
Như vậy, với Thông tư số 26/2017/TT-NHNN, Ngân hàng Nhà nước đã có những sự điều chỉnh, bổ sung đối với hoạt động sử dụng thẻ ngân hàng. Những sự thay đổi này được đánh giá là phù hợp với yêu cầu của thực tế nhưng vẫn đảm bảo đáp ứng tính an toàn trong hoạt động sử dụng thẻ ngân hàng cho cả phía Ngân hàng và chủ thẻ sử dụng.
Ngày 09/02/2018, Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Quyết định số 321/QĐ-BGTVT quy định về việc công bố thủ tục hành chính được bổ sung lĩnh vực Đăng kiểm thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Giao thông vận tải. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01/03/2018.
Theo đó, Quyết định số 321/QĐ-BGTVT có một số điểm mới nổi bật như sau:
1. Quy định cụ thể về thủ tục cấp giấy chứng nhận an toàn chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ an toàn xe ô tô nhập khẩu
Doanh nghiệp nhập khẩu ô tô thuộc đối tượng của Nghị định 116/2017/NĐ-CP lập 01 bộ hồ sơ đề nghị đăng ký kiểm tra theo quy định đến Cục Đăng kiểm Việt Nam. Tại thời điểm đăng ký kiểm tra, doanh nghiệp nhập khẩu phải cung cấp các tài liệu hồ sơ, riêng các giấy tờ dưới đây cung cấp cho Cục Đăng kiểm Việt Nam như sau:
– Bản sao tờ khai hàng hóa nhập khẩu nộp khi đề nghị kiểm tra thực tế;
– Bản sao Báo cáo thử nghiệm khí thải;
– Báo cáo thử nghiệm an toàn đưđưử nghiệm nghiệm khí thảinộp khi đề nghị kiểm tra thực tế;kiểm Việt
Bên cạnh đó, Đối với Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng, doanh nghiệp nộp bản sao trên hệ thống trực tuyến và nộp bổ sung bản chính cho Cục Đăng kiểm Việt Nam trước khi kiểm tra xe thực tế.
2. Quy định cụ thể về việc giải quyết thủ tục hành chính
Cục Đăng kiểm Việt Nam tiếp nhận, kiểm tra nội dung hồ sơ đăng ký kiểm tra mà doanh nghiệp nhập khẩu nộp trong thời gian tối đa 01 ngày làm việc. Trường hợp hồ sơ đăng ký kiểm tra đầy đủ theo quy định, Cục Đăng kiểm Việt Nam xác nhận vào Bản đăng ký kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường ô tô nhập khẩu. Trường hợp hồ sơ đăng ký kiểm tra chưa đủ theo quy định, Cục Đăng kiểm Việt Nam đề nghị doanh nghiệp nhập khẩu bổ sung.
Ngoài ra, Quyết định số 321/QĐ-BGTVT cũng quy định doanh nghiệp nhập khẩu xuất trình ô tô để Cục Đăng kiểm Việt Nam tiến hành việc kiểm tra tại địa điểm và thời gian đã đăng ký. Đối với ô tô đã qua sử dụng nhập khẩu phải được kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với từng xe theo quy định. Nội dung kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với từng xe theo quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư số 03/2018/TT-BGTVT ngày 10/01/2018 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.
Có thể thấy, Quyết định số 321/QĐ-BGTVT sẽ góp phần hướng dẫn cũng như kiểm soát chặt chẽ các hoạt động thủ tục hành chính được bổ sung thêm lĩnh vực đăng kiểm, đó sẽ là cơ sở quan trọng để các tổ chức, các nhân có liên quan tham chiếu và thực hiện các thủ tục một cách hiệu quả.
Ngày 23/02/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan. Nghị định này sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/04/2018
Theo đó, Nghị định Nghị định số 22/2018/NĐ-CP có một số điểm mới nổi bật sau:
1. Mở rộng đối tượng áp dụng
Nghị định này, không chỉ áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến quyền tác giả, quyền liên quan mà còn áp dụng đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ và cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan.
2. Làm rõ và bổ sung một số thuật ngữ được sử dụng tại Luật Sở hữu trí tuệ
– Tác phẩm khuyết danh: Được định nghĩa không chỉ là tác phẩm không có tên tác giả mà còn tác phẩm chưa có tên tác giả.
– Bản sao của tác phẩm là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn bộ tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.
– Bản ghi âm, ghi hình là bản định hình các âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác, hoặc việc định hình sự tái hiện lại các âm thanh, hình ảnh không phải dưới hình thức định hình gắn với tác phẩm điện ảnh hoặc tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự.
– Bản sao bản ghi âm, ghi hình là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn bộ bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.
– Tái phát sóng là việc truyền dẫn phát sóng lại hoặc tiếp sóng chương trình của một tổ chức phát sóng.
– Tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hóa là tín hiệu vệ tinh mang chương trình được truyền đi mà một trong hai đặc tính âm thanh, hình ảnh hoặc cả hai đặc tính này đã được biến đổi, thay đổi nhằm mục đích ngăn cản những người không có thiết bị giải mã tín hiệu vệ tinh hợp pháp thu trái pháp chương trình truyền trong tín hiệu đó.
– Nhuận bút là khoản tiền do bên sử dụng tác phẩm trả cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả trong trường hợp chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả.
– Thù lao là khoản tiền do bên sử dụng tác phẩm trả cho chủ sở hữu quyền tác giả; bên sử dụng cuộc biểu diễn trả cho người biểu diễn hoặc chủ sở hữu cuộc biểu diễn.
– Quyền lợi vật chất khác là các lợi ích vật chất mà tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan được hưởng ngoài tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất như việc nhận giải thưởng, nhận sách biếu khi xuất bản, nhận vé mời xem chương trình biểu diễn, trình chiếu tác phẩm điện ảnh, trưng bày, triển lãm tác phẩm.
3. Quy định rõ nội dung “khai thác, sử dụng bản ghi âm, ghi hình”
– Tổ chức, cá nhân nào sử dụng bản ghi âm, ghi hình theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ đều phải trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất cho chủ sở hữu quyền tác giả.
– Các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả tự thỏa thuận về việc thu tiền nhuận bút và tỷ lệ phân chia tiền nhuận bút theo quy định của pháp luật.
– Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả nhận ủy quyền chỉ có trách nhiệm đàm phán thu tiền nhuận bút theo danh mục hội viên, tác phẩm được quy định tại hợp đồng ủy quyền.
4. Làm rõ và bổ sung chính sách của Nhà nước vể quyền tác giả, quyền liên quan
Làm rõ các các quy định về: Ưu tiên đầu tư, ứng dụng khoa học và công nghệ trong việc bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan; Đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan. Tăng cường giáo dục kiến thức về quyền tác giả, quyền liên quan trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác phù hợp với từng cấp học, trình độ đào tạo.
Bổ sung quy định về việc huy động các nguồn lực của xã hội đầu tư nâng cao năng lực hệ thống bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế.
5. Bổ sung và làm rõ trách nhiệm và nội dung quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan
Bổ sung một số nhiệm vụ đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:
– Quản lý, khai thác quyền tác giả đối với tác phẩm, quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng thuộc về sở hữu nhà nước; nhận chuyển giao quyền tác giả của tổ chức, cá nhân cho nhà nước theo quy định của pháp luật.
– Quản lý hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan, tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan.
Làm rõ nhiệm vụ đối với UBND cấp tỉnh trong việc thực hiện quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan tại địa phương:
– Tổ chức các hoạt động bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan tại địa phương; thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức, cá nhân v�� quyền tác giả, quyền liên quan.
– Thanh tra, kiểm tra, xử lý theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo, vi phạm các quy định pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan tại địa phương.
– Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
Nghị định số 22/2018/NĐ-CP sẽ thay thế Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan; Nghị định số 85/2011/NĐ-CP ngày 20/09/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan.
Ngày 02/02/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 17/2018/NĐ-CP quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngăm 2014 của chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản. Nghị định này sẽ có hiệu lực vào ngày 25/3/2018.
Theo đó, Nghị định số 17/2018/NĐ-CP có những quy định mới nổi bật đáng chú ý như sau:
Cho phép thực hiện cơ chế chuyển đổi chủ tàu
Nghị định này bổ sung quy định cơ chế xử lý rủi ro trong chính sách tín dụng. Theo đó, cho phép thực hiện cơ chế chuyển đổi chủ tàu trong trường hợp chủ tàu không còn khả năng tiếp tục thực hiện dự án đóng mới, nâng cấp tàu hoặc chủ tàu đã hoàn thành đóng mới nhưng không đủ năng lực để hoạt động khai thác hải sản, chủ tàu mới tiếp tục được hưởng hỗ trợ lãi suất khi nhận bàn giao lại tàu và khoản nợ vay từ chủ tàu cũ.
Bên cạnh đó, Chính sách cho vay vốn lưu động cũng được sửa đổi. Cụ thể, đối tượng được vay vốn là chủ tàu khai thác hải sản xa bờ; chủ tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ (gọi chung là khách hàng). Việc cho vay vốn lưu động do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định hiện hành của pháp luật về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Bổ sung chính sách hỗ trợ một lần sau đầu tư
Đối tượng được hỗ trợ là chủ tàu đóng mới và sở hữu tàu khai thác hải sản xa bờ hoặc tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ có tổng công suất máy chính từ 800 CV trở lên cụ thể: Tàu đóng mới thuộc số lượng tàu đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phân bổ cho các tỉnh; tàu đóng mới thay thế các tàu làm nghề lưới kéo có công suất từ 90CV trở lên chuyển đổi sang làm các nghề được khuyến khích phát triển như: Lưới vây, nghề lưới rê (trừ lưới rê khai thác cá ngừ), nghề câu, nghề chụp, dịch vụ hậu cần.
Để được hỗ trợ, chủ tàu phải là thành viên của tổ đội sản xuất, nghiệp đoàn nghề cá, hợp tác xã nghề cá được UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt; tàu cá đóng mới phải là tàu khai thác hải sản xa bờ, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ vỏ thép, vỏ composite; tàu đóng mới máy chính phải sử dụng máy thủy mới 100% chính hãng; tàu cá phải lắp đặt máy thông tin liên lạc tầm xa có tích hợp thiết bị định vị vệ tinh và kết nối được với trạm bờ để quản lý, giám sát hành trình trong quá trình tàu hoạt động trên biển; tàu khai thác hải sản xa bờ đã được cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá, Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá và Giấy phép khai thác thủy sản; tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ đã được cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá, Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá.
Về mức hỗ trợ, Nghị định nêu rõ, đối với tàu khai thác, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản đóng mới vỏ thép (bao gồm cả các trang thiết bị mới): Tàu cá có tổng công suất máy chính từ 800CV đến dưới 1.000CV, chủ tàu được hỗ trợ 35% giá trị đầu tư đóng mới nhưng không quá 6,7 tỷ đồng/tàu; tàu cá có tổng công suất máy chính từ 1.000CV trở lên, chủ tàu được hỗ trợ 35% giá trị đầu tư đóng mới nhưng không quá 8 tỷ đồng/tàu.
Đối với tàu khai thác, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản đóng mới vỏ composite có công suất từ 800CV trở lên (bao gồm cả các trang thiết bị mới), chủ tàu được hỗ trợ 35% giá trị đầu tư đóng mới nhưng không quá 6,7 tỷ đồng/tàu.
Ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí mua bảo hiểm
Ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí mua bảo hiểm cho các tàu khai thác hải sản xa bờ, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ là thành viên tổ đội, nghiệp đoàn nghề cá, hợp tác xã khai thác hải sản và có tổng công suất máy chính từ 90 CV trở lên. Cụ thể, hỗ trợ hàng năm 100% kinh phí mua bảo hiểm tai nạn thuyền viên cho mỗi thuyền viên làm việc trên tàu. Hỗ trợ hàng năm 50% kinh phí mua bảo hiểm thân tàu (bảo hiểm mọi rủi ro đối với thân tàu, không bao gồm trang thiết bị đánh bắt hải sản, ngư lưới cụ trên tàu).
Có thể thấy, Nghị định số 17/2018/NĐ-CP với những quy định mới và chi tiết hơn được kỳ vọng sẽ tạo nên những điều kiện thuận lợi cho những hoạt động đánh bắt, khai thác thủy sản, qua đó góp phần phát triển hoạt động này nói riêng cũng như sự phát triển nói chung của ngành thủy sản của cả nước.
Ngày 29/12/2017, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư số 47/2017/TT-BTTTT quy định về hạn mức khuyến mại đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất đối với các doanh nghiệp viễn thông được cấp phép cung cáp dịch vụ thông tin di động. Thông tư này có hiệu lực từ ngày
Theo đó Thông tư số 47/2017/TT-BTTTT quy định mức tổng giá trị tối đa của dịch vụ, hàng hóa để khuyến mại trong một chương trình khuyến mại và mức giá trị vật chất tối đa khuyến mại áp dụng cho từng đơn vị dịch vụ thông tin di động mặt đất (sau đây gọi tắt là dịch vụ thông tin di động), hàng hóa viễn thông chuyên dùng đối với dịch vụ thông tin di động, cụ thể như sau:
1. Tổng giá trị tối đa dùng để khuyến mại trong một chương trình khuyến mại cho thuê bao dịch vụ thông tin di động trả trước không được vượt quá 20% tổng giá trị của dịch vụ thông tin di động, hàng hóa viễn thông chuyên dùng đối với dịch vụ thông tin di động được khuyến mại.
2. Tổng giá trị tối đa dùng để khuyến mại trong một chương trình khuyến mại cho thuê bao dịch vụ thông tin di động trả sau không được vượt quá 50% tổng giá trị của dịch vụ thông tin di động, hàng hóa viễn thông chuyên dùng đối với dịch vụ thông tin di động được khuyến mại.
Ngoài ra, Thông tư này cũng quy định về việc tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên của dịch vụ di động. Theo đó, khách hàng thường xuyên của dịch vụ di động gồm có: Thuê bao trả sau và thuê bao trả trước chuyển sang trả sau. Thuê bao di động trả trước đã sử dụng dịch vụ tối thiểu 1 năm và tổng số tiền cước trả do nhà mạng tối thiểu là 1 triệu đồng.
Có thể thấy, các quy đinh tại Thông tư số 47/2017/TT-BTTTT sẽ góp phần đảm cạnh tranh lành mạnh trên thị trường dịch vụ di động, đảm bảo an toàn, an ninh xã hội, bảo đảm quyền lợi của khách hàng sử dụng dịch vụ, qua đó cũng góp phần hạn chế cuộc gọi rác, tin nhắn rác.