Ngày 12/03/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 41/2018/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/05/2018.
Theo đó, Nghị định số 41/2018/NĐ-CP quy định như sau:
1. Đối tượng áp dụng: Các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, các tổ chức là đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập theo quy định của nghị định; người có thẩm quyền lập biên bản, xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
2. Quy định mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập là 50 triệu đồng đối với cá nhân và 100 triệu đồng đối với tổ chức.
3. Quy định cụ thể về các hành vi vi phạm, bao gồm: Vi phạm quy định về thi chứng chỉ kế toán viên và cập nhật kiến thức cho kế toán viên hành nghề, người đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán; vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chứng chỉ kế toán viên, chứng chỉ Kiểm toán viên; vi phạm quy định về kinh doanh dịch vụ kế toán; vi phạm quy định về cung cấp, sử dụng dịch vụ kế toán qua biên giới; vi phạm quy định về thông báo, báo cáo; vi phạm quy định về kiểm tra hoạt động dịch vụ kế toán; vi phạm quy định về đăng ký hành nghề kiểm toán; vi phạm quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán và kinh doanh dịch vụ kiểm toán; vi phạm quy định về hoạt động kiểm toán; vi phạm quy định về đơn vị được kiểm toán; vi phạm quy định về kiểm toán báo cáo tài chính của đơn vị có lợi ích công chúng; vi phạm quy định về kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán.
Như vậy, Nghị định số 41/2018/NĐ-CP quy định chi tiết và cụ thể về các hành vi vi phạm trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập, đồng thời đưa ra các biện pháp xử lý và mức phạt tiền thích hợp đối với mỗi hành vi vi phạm đã cho thấy thái độ nghiêm khắc của nhà nước đối với các hoạt động kế toán, kiểm toán nhằm đảm bảo sự trung thực, khách quan, chính xác đối với các cá nhân, tổ chức đang hoạt động trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập.
Ngày 09/02/2018, Bộ Công an – Bộ Quốc phòng – Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC quy định phối hợp thực hiện quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện. Thông tư liên tịch này có hiệu lực kể từ ngày 28/03/2018.
Theo đó, Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn chi tiết một số quy định cụ thể như sau:
1. Quy định về 03 nguyên tắc phối hợp thực hiện tha tù trước thời hạn có điều kiện, bao gồm: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa, khách quan, công bằng; khuyến khích phạm nhân, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thi đua cải tạo, tiến bộ, chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ trong thời gian thử thách; chủ động, thường xuyên, chặt chẽ, kịp thời, tạo điều kiện hỗ trợ tốt nhiệm vụ.
2. Quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục xét, đề nghị, quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, cụ thể như sau:
– Các trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện rà soát, lập danh sách (kèm theo hồ sơ) đề nghị tha tù trước thời hạn;
– Lập Hội đồng xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện và Hội đồng thẩm định hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện;
– Sau khi thẩm định hồ sơ, danh sách phạm nhân đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Hội đồng tổng hợp kết quả, lập danh sách và báo cáo Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự duyệt
– Căn cứ kết quả thẩm định đã duyệt, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam hoàn chỉnh hồ sơ, danh sách, làm văn bản đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định; đồng thời, gửi một bộ hồ sơ, danh sách đến Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật.
3. Quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục xét, đề nghị, và quyết định rút ngắn thời gian thử thách, bao gồm:
– Lập hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách;
– Thực hiện thủ tục đề nghị rút ngắn thời gian thử thách
– Thực hiện thủ tục xét, quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
4. Quy định về trình tự thi hành Quyết định của Tòa án về tha tù trước thời hạn có điều kiện, cụ thể như sau:
– Tổ chức công bố công khai Quyết định của Tòa án về tha tù trước thời hạn có điều kiện; cấp Giấy chứng nhận tha tù trước thời hạn có điều kiện và tha phạm nhân có Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện;
– Lập hồ sơ thi hành Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức quản lý, giám sát và giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện;
– Quản lý, bổ sung tài liệu hồ sơ thi hành Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, phân công người trực tiếp quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện và tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
– Báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng để theo dõi, chỉ đạo.
5. Quy định về trình tự, hồ sơ đề nghị và thi hành Quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, cụ thể như sau:
– Lập hồ sơ, có văn bản đề nghị và gửi đến Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định hủy Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, đồng thời gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật.
– Hồ sơ đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện gồm: Biên bản vi phạm nghĩa vụ hoặc Quyết định xử phạt vi phạm hành chính; văn bản đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, đơn vị quân đội được giao quản lý; bản sao Bản án; bản sao Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện; kết quả chấp hành các quy định về tha tù trước thời hạn có điều kiện của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
– Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện bị hủy Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thì Cơ quan quản lý thi hành án hình sự quyết định đưa người đó đến trại giam, trại tạm giam hoặc Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tiếp tục chấp hành phần thời hạn tù còn lại chưa chấp hành.
Thông qua Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC, Nhà nước đã xây dựng khung pháp lý công khai, minh bạch, rõ ràng về tha tù trước thời hạn có điều kiện, góp phần trong việc đưa Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015 nhanh chóng đi vào thực tiễn áp dụng và thi hành pháp luật.
Ngày 20/03/2018, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 55/TANDTC-PC hướng dẫn các tiêu chí xác định vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành. Công văn này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Công văn số 55/TANDTC-PC hướng dẫn các nội dung sau:
1. Tiêu chí xác định vụ việc dân sự hòa giải thành:
– Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án và Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;
– Sau khi hòa giải, nguyên đơn rút đơn khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án; dân sự với lý do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện;
– Vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn được Thẩm phán tiến hành hòa giải mà sau khi hòa giải, vợ, chồng không đoàn tụ nhưng thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản chung và Tòa án quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự;
– Việc dân sự về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn mà sau khi hòa giải, vợ, chồng đoàn tụ và Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu.
2. Tiêu chí xác định vụ án hành chính đối thoại thành:
– Trường hợp qua đối thoại mà người khởi kiện rút đơn khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;
– Trường hợp sau khi đối thoại, người bị kiện ban hành quyết định hành chính mới hoặc thông báo về việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện rút đơn khởi kiện như đã cam kết tại phiên họp đối thoại và Tòa án ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án.
Bằng những hướng dẫn cụ thể và chi tiết của Tòa án nhân dân tối cao về tiêu chí xác định hòa giải thành, đối thoại thành trong giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính, Công văn số 55/TANDTC-PC được đánh giá có ý nghĩa thiết thực, hỗ trợ tốt cho công tác giải quyết vụ việc và vụ án tại Tòa án.
Ngày 13/02/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 08/CT-TTg về việc tăng cường thực hiện các biện pháp nhằm rút ngắn thời gian cấp giấy phép xây dựng và các thủ tục liên quan. Chỉ thị này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc tăng cường thực hiện các biện pháp nhằm rút ngắn thời gian cấp giấy phép xây dựng như sau:
1. Trong năm 2018, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất từ 30 ngày xuống còn tối đa 20 ngày (giảm 10 ngày so với quy định cũ).
2. Rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục thẩm định thiết kế xây dựng, cấp giấy phép xây dựng từ 82 ngày xuống còn 63 ngày, trong đó thẩm định thiết kế cơ sở giảm tối thiểu 05 ngày, thẩm định thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công giảm tối thiểu 04 ngày và cấp giấy phép xây dựng giảm tối thiểu 10 ngày.
3. Rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục thẩm duyệt về phòng cháy, chữa cháy từ 30 ngày xuống còn tối đa 20 ngày. Trong đó, góp ý đối với dự án thiết kế quy hoạch giảm từ 10 ngày xuống còn 05 ngày, góp ý với thiết kế cơ sở từ 10 ngày xuống còn 05 ngày.
Có thể thấy, các chỉ đạo cụ thể tại Chỉ thị số 08/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng và ban hành các quy định chi tiết về giấy phép xây dựng theo hướng rút ngắn thủ tục hành chính, qua đó góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng công trình, đẩy mạnh tốc độ phát triển của ngành xây dựng nói riêng và của toàn nền kinh tế nói chung.
Ngày 28/02/2018, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 04/2018/TT-BGDĐT về việc sửa đổi Quy chế thi trung học phổ thông quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15/04/2018.
Theo đó, Thông tư số 04/2018/TT-BGDĐT có một số nội dung chính như sau:
1. Về chấm bài thi tự luận
Chấm thi theo hướng dẫn chấm, đáp án, thang điểm của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bài thi được chấm theo thang điểm 10; điểm lẻ của tổng điểm toàn bài được làm tròn đến 2 chữ số thập phân.
2. Về thành phần hồ sơ đăng ký dự thi đối với thí sinh chưa có bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông
– Học bạ Trung học phổ thông hoặc học bạ Giáo dục thường xuyên cấp Trung học phổ thông (bản sao được chứng thực từ bản chính, bản sao được cấp từ sổ gốc hoặc bản sao kèm bản gốc để đối chiếu);
– Giấy xác nhận của trường phổ thông nơi thí sinh học lớp 12 hoặc nơi thí sinh đăng ký dự thi về xếp loại học lực đối với những học sinh xếp loại kém về học lực;
– Bằng tốt nghiệp Trung học cơ sở hoặc trung cấp (bản sao được chứng thực từ bản chính, bản sao được cấp từ sổ gốc hoặc bản sao kèm bản gốc để đối chiếu);
– Giấy xác nhận điểm bảo lưu (nếu có) do Hiệu trưởng trường phổ thông nơi thí sinh đã dự thi năm trước xác nhận.
Riêng đối với thí sinh đã tốt nghiệp trung cấp không có học bạ Trung học phổ thông hoặc học bạ Giáo dục thường xuyên cấp Trung học phổ thông đăng ký dự thi để lấy kết quả xét tuyển vào đại học hoặc xét tuyển vào cao đẳng, trung cấp có nhóm ngành đào tạo giáo viên phải học và được công nhận đã hoàn thành các môn văn hóa trung học phổ thông theo quy định.
3. Về xử lý thí sinh vi phạm quy chế thi: thí sinh bị hủy kết quả thi và lập hồ sơ gửi cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý nếu vi phạm một trong năm lỗi sau:
– Giả mạo hồ sơ để hưởng chế độ ưu tiên, khuyến khích;
– Sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp;
– Để người khác dự thi thay, làm bài thay dưới mọi hình thức;
– Có hành động gây rối, phá hoại kỳ thi; hành hung cán bộ hoặc thí sinh khác;
– Sử dụng Giấy chứng nhận kết quả thi không hợp pháp.
Thông tư số 04/2018/TT-BGDĐT với những thay đổi mới được đánh giá đã góp phần tích cực trong việc hướng tới việc tổ chức và thực hiện kỳ thi quốc gia minh bạch và chất lượng.
Ngày 30/01/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 11/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16/06/2014 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 20/03/2018.
Theo đó, Thông tư số 11/2018/TT-BTC có một số điểm mới nổi bật như sau:
1. Quy định về xác định tiền thuê đất
– Trường hợp người được Nhà nước cho thuê đất đang sử dụng nhà, đất tại công trình xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp thuộc sở hữu nhà nước hoặc có phần diện tích thuộc quyền quản lý của Nhà nước mà không tách riêng được phần diện tích đất sử dụng cho từng đối tượng đang sử dụng thì tiền thuê đất phải nộp được phân bổ cho từng đối tượng sử dụng theo hệ số phân bổ nhân (x) với diện tích sàn sử dụng của từng đối tượng và áp dụng từ ngày 01/07/2014. Trong đó: Hệ số phân bổ được xác định bằng tỷ lệ giữa diện tích đất tính thu tiền thuê đất và tổng diện tích sàn sử dụng của các đối tượng; Trường hợp nhà có tầng hầm thì 50% diện tích tầng hầm được cộng vào tổng diện tích sàn sử dụng của công trình xây dựng để tính hệ số phân bổ.
– Trường hợp diện tích các tầng hầm được xác định là thuộc sở hữu chung của các đối tượng sử dụng công trình xây dựng thì diện tích các tầng hầm được phân bổ đều cho các đối tượng sử dụng công trình xây dựng. Trường hợp diện tích các tầng hầm được xác định là thuộc sở hữu của đối tượng phải nộp tiền thuê đất thì diện tích các tầng hầm được phân bổ để tính thu tiền thuê đất cho đối tượng này.
– Khi được gia hạn sử dụng đất mà người sử dụng đất thuộc đối tượng phải nộp tiền thuê đất thì tiền thuê đất được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm được gia hạn. Đối với trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì chu kỳ ổn định đơn giá thuê đất tính từ thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định gia hạn thời gian thuê đất. Trường hợp hết thời gian thuê đất nhưng cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa ban hành quyết định gia hạn thời gian thuê đất thì người sử dụng đất phải nộp tiền thuê đất của từng năm sử dụng đất kể từ thời điểm hết thời gian thuê đất đến thời điểm có quyết định gia hạn thời gian thuê đất theo đơn giá xác định trên cơ sở giá đất tại Bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất, tỷ lệ phần trăm (%) tính đơn giá thuê đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành của từng năm sử dụng đất; không được ổn định đơn giá thuê đất (05 năm một lần) trong khoảng thời gian này.
2. Quy định về áp dụng miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước
– Trường hợp người được Nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê và được miễn toàn bộ tiền thuê đất nhưng trong thời gian thuê có nguyện vọng nộp tiền thuê đất (không hưởng ưu đãi) thì số tiền thuê đất phải nộp một lần cho thời gian thuê đất còn lại được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm người sử dụng đất có văn bản đề nghị được nộp tiền thuê đất. Đơn giá thuê đất thu một lần cho cả thời gian thuê còn lại.
– Trường hợp diện tích tính thu tiền thuê đất của thửa đất hoặc khu đất có giá trị (tính theo giá đất trong Bảng giá đất) từ 30 tỷ đồng trở lên đối với các thành phố trực thuộc Trung ương; từ 10 tỷ đồng trở lên đối với các tỉnh miền núi, vùng cao; từ 20 tỷ đồng trở lên đối với các tỉnh còn lại thì đơn giá thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê còn lại do Sở Tài nguyên và Môi trường xác định, chuyển cho Hội đồng thẩm định giá đất của địa phương do Sở Tài chính làm Thường trực Hội đồng để tổ chức thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.
3. Quy định về xử lý một số nội dung chuyển tiếp
Trường hợp nhà đầu tư đã chi trả tiền đền bù, giải phóng mặt bằng theo phương án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (bao gồm cả trường hợp tự thỏa thuận bồi thường hoặc tự nhận chuyển nhượng) theo quy định của pháp luật trước 01/07/2004 và được Nhà nước cho thuê đất từ 01/07/2004 trở về sau thì được trừ số tiền bồi thường về đất, hỗ trợ về đất theo phương án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc giá trị quyền sử dụng đất theo mục đích đất nhận chuyển nhượng hợp pháp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định và phê duyệt (đối với trường hợp tự thỏa thuận bồi thường, tự nhận chuyển nhượng) tại thời điểm tự thỏa thuận, tự nhận chuyển nhượng (phân bổ cho thời gian thuê đất còn lại tương ứng với phần diện tích có thu tiền thuê đất và chưa được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh) vào tiền thuê đất phải nộp và không vượt quá số tiền thuê đất phải nộp. Số tiền được trừ vào tiền thuê phải nộp được quy đổi ra thời gian đã hoàn thành việc nộp tiền thuê đất hàng năm. Đơn giá thuê đất để thực hiện quy đổi áp dụng theo chính sách và giá đất tại thời điểm ngày 01/01/2016.
Có thể thấy, Thông tư số 11/2018/TT-BTC đã có nhưng sửa đổi bổ sung kịp thời, quy định rõ ràng về việc thu tiền thuê đất, thuê mặt nước, qua đó đảm bảo được quyền và lợi ích của người dân cũng như sẽ góp phần tăng cường quản lý Nhà nước trong hoạt động này một cách hiệu quả, công khai và minh bạch.
Ngày 30/01/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 10/2018/TT-BTC về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16/06/2014 Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 20/03/2018.
Theo đó, Thông tư số 10/2018/TT-BTC có một số điểm mới nổi bật như sau:
1. Bổ sung cách xác định tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất: Mức tỷ lệ phần trăm (%) tính đơn giá thuê đất hàng năm được xác định theo mục đích sử dụng đất thương mại, dịch vụ tương ứng với từng khu vực, tuyến đường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể theo quy định của pháp luật về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.
2. Bổ sung các trường hợp xác định tiền sử dụng đất khi được Nhà nước cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình và cá nhân:
– Đối với các tổ chức kinh tế được Nhà nước cho phép chuyển mục đích sử dụng đất: Trường hợp thời gian sử dụng đất còn lại không tròn năm thì tính theo tháng; thời gian không tròn tháng thì từ 15 ngày trở lên được tính tròn 01 tháng, dưới 15 ngày thì không tính tiền sử dụng đất.
– Trường hợp chuyển mục đích sử dụng từ đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (không phải là đất ở) có nguồn gốc nhận chuyển nhượng đất ở của hộ gia đình, cá nhân sang đất ở để thực hiện dự án đầu tư từ ngày 01/07/2014 trở về sau thì nộp tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo quy hoạch xây dựng chi tiết của dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trừ (-) tiền sử dụng đất tính theo quy hoạch xây dựng nhà ở của hộ gia đình, cá nhân của từng khu vực tại thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
– Tổ chức kinh tế được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại khoản 29, khoản 30 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP, thuộc trường hợp được tiếp tục sử dụng đất theo hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì nộp tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất của loại đất sau khi chuyển mục đích trừ (-) đi số tiền sử dụng đất tính theo giá đất của loại đất trước khi chuyển mục đích của thời hạn sử dụng đất còn lại tại thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
– Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại khoản 30 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP, thuộc trường hợp được tiếp tục sử dụng đất theo hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì nộp tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất của loại đất sau khi chuyển mục đích trừ (-) đi số tiền sử dụng đất tính theo giá đất của loại đất trước khi chuyển mục đích của thời hạn sử dụng đất còn lại tại thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
3. Xác định tiền sử dụng đất khi cấp lại Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật:
– Trường hợp Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật do lỗi của cơ quan nhà nước thì tiền sử dụng đất khi cấp lại Giấy chứng nhận được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm đã cấp Giấy chứng nhận trước đây. Trường hợp Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật do lỗi của người sử dụng đất thì tiền sử dụng đất khi cấp lại Giấy chứng nhận được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
– Việc thu, nộp và hoàn trả nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất: Trường hợp người sử dụng đất chưa nộp tiền sử dụng đất khi được cấp Giấy chứng nhận trước đây hoặc số tiền đã nộp nhỏ hơn số tiền sử dụng đất được xác định lại thì người sử dụng đất phải nộp số tiền sử dụng đất còn thiếu. Trường hợp số tiền sử dụng đất mà người sử dụng đất đã nộp trước đây lớn hơn số tiền sử dụng đất phải nộp khi xác định lại thì người sử dụng đất được Nhà nước hoàn trả số tiền đã nộp thừa theo quy định.
– Việc thu tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tăng thêm do đo đạc lại so với giấy tờ về quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được quy định như sau:
+ Trường hợp được cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích tăng thêm mà hộ gia đình, cá nhân đã có Giấy chứng nhận thì nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích tăng thêm theo chính sách và giá đất tại thời điểm đã cấp Giấy chứng nhận.
+ Trường hợp được cấp Giấy chứng nhận đối với phần diện tích tăng thêm mà hộ gia đình, cá nhân đã có các giấy tờ về quyền sử dụng đất khác thì nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất tăng thêm theo chính sách và giá đất tại thời điểm có quyết định công nhận quyền sử dụng đất tăng thêm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Có thể thấy, việc Thông tư số 10/2018/TT-BTC hướng dẫn chi tiết cách xác định tiền sử dụng đất trong các trường hợp cụ thể sẽ góp phần thực hiện chủ trương công khai, minh bạch trong hoạt động thu ngân sách của Nhà nước.
Ngày 08/03/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Quản lý Ngoại thương về xuất xứ hàng hóa. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Nghị định số 31/2018/NĐ-CP quy định xuất xứ hàng hóa là nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó. Việc xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu hưởng chế độ ưu đãi về thuế quan và phi thuế quan được áp dụng theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập và theo quy định của Bộ Công Thương hướng dẫn Điều ước quốc tế đó, cụ thể như sau:
1. Hàng hóa được coi là có xuất xứ khi thuộc một trong các trường hợp sau:
– Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ theo quy định; (hoặc)
– Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ, nhưng đáp ứng các quy định tại Nghị định này.
2. Cơ quan, tổ chức cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa có thể áp dụng các biện pháp chống gian lận xuất xứ đối với 03 trường hợp:
– Tạm dừng cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong 03 tháng, kể từ lần đầu tiên thương nhân đăng tải các thông tin, dữ liệu không liên quan đến cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa trên Hệ thống quản lý và cấp chứng nhận xuất xứ điện tử.
– Tạm dừng cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong 06 tháng, kể từ ngày phát hiện thương nhân sử dụng chứng từ giả hoặc kê khai gian lận khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận.
– Thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp và tạm dừng cấp trong 06 tháng kể từ ngày thương nhân không hợp tác, không cung cấp đầy đủ hồ sơ, chứng từ hoặc cung cấp sai thông tin chứng minh xuất xứ hàng hóa khi cơ quan, tổ chức cấp Giấy chứng nhận tiến hành hậu kiểm.
Ngoài các biện pháp chống gian lận xuất xứ nêu trên, cơ quan, tổ chức cấp Giấy chứng nhận có thể áp dụng chế độ luồng đỏ trong hệ thống quản lý rủi ro đối với thương nhân và công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Công Thương.
3. Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa
Đối với thương nhân đề nghị cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa lần đầu hoặc cho sản phẩm mới xuất khẩu lần đầu hoặc cho sản phẩm không cố định (có thay đổi về định mức số lượng, định mức trọng lượng, mã HS, trị giá và nguồn cung nguyên liệu đối với cả nguyên liệu đầu vào hoặc sản phẩm đầu ra mỗi lần cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa), hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa gồm:
– Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa được kê khai hoàn chỉnh và hợp lệ theo Mẫu số 04 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;
– Mẫu Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa tương ứng đã được khai hoàn chỉnh;
– Bản in tờ khai hải quan xuất khẩu. Trường hợp hàng hóa xuất khẩu không phải khai báo hải quan theo quy định của pháp luật không cần nộp bản sao tờ khai hải quan;
– Bản sao hóa đơn thương mại (đóng dấu sao y bản chính của thương nhân);
– Bản sao vận tải đơn hoặc bản sao chứng từ vận tải tương đương (đóng dấu sao y bản chính của thương nhân) trong trường hợp thương nhân không có vận tải đơn. Thương nhân được xem xét không cần nộp chứng từ này trong trường hợp xuất khẩu hàng hóa có hình thức giao hàng không sử dụng vận tải đơn hoặc chứng từ vận tải khác theo quy định của pháp luật hoặc thông lệ quốc tế;
– Bảng kê khai chi tiết hàng hóa xuất khẩu đạt tiêu chí xuất xứ ưu đãi hoặc tiêu chí xuất xứ không ưu đãi theo mẫu do Bộ Công Thương quy định;
– Bản khai báo xuất xứ của nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp nguyên liệu có xuất xứ hoặc hàng hóa có xuất xứ được sản xuất trong nước theo mẫu do Bộ Công Thương quy định trong trường hợp nguyên liệu đó được sử dụng cho một công đoạn tiếp theo để sản xuất ra một hàng hóa khác;
– Bản sao Quy trình sản xuất hàng hóa (đóng dấu sao y bản chính của thương nhân);
Như vậy, Nghị định số 31/2018/NĐ-CP đã đưa ra những hướng dẫn chi tiết và cụ thể về xác định xuất xứ hàng hóa cũng như hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa. Những quy định này được kỳ vọng sẽ hỗ trợ các cơ quan chức năng trong việc kiểm soát và hạn chế tình trạng hàng hóa không rõ nơi sản xuất, ghi nhãn mác không rõ ràng thiếu trung thực, qua đó góp phần bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người tiêu dùng.
Ngày 05/03/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 07/CT-TTg về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/05/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 và Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 06/06/2017 về việc tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 35/NQ-CP theo tinh thần Chính phủ đồng hành cùng doanh nghiệp trong năm 2018. Chỉ thị này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ nhận định việc triển khai Nghị quyết số 35/NQ-CP và Chỉ thị số 26/CT-TTg đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào kết quả phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Các Bộ, ngành, địa phương đã có nhiều nỗ lực trong triển khai, tạo chuyển biến tích cực trong tư tưởng, nhận định của đội ngũ cán bộ, công chức các cấp, đặc biệt về lề lối, tác phong, tinh thần, thái độ phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Công tác hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp, thu hút đầu tư, cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh đã được các cấp, các ngành quan tâm hơn, nhận được sự hưởng ứng, tham gia tích cực từ cộng đồng doanh nghiệp và đạt được kết quả tốt.
Tuy nhiên, Thủ tướng Chính phủ cũng cho rằng việc triển khai Nghị quyết số 35/NQ-CP và Chỉ thị số 26/CT-TTg còn nhiều tồn tại, hạn chế, chưa tạo được những đột phá thực sự thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, cụ thể:
1. Các chính sách vẫn còn khoảng cách so với thực tiễn;
2. Chưa giải quyết triệt để tình trạng quy định chưa đồng bộ giữa các luật như Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Đất đai, Luật Xây dựng…; công tác thanh tra, kiểm tra còn chồng chéo;
3. Khả năng tiếp cận các nguồn lực (vốn, đất đai, tài nguyên, khoáng sản…) của doanh nghiệp còn khó khăn.
Do đó, để tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết số 35/NQ-CP và Chỉ thị số 26/CT-TTg trong năm 2018, Thủ tướng đã yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tập trung triển khai quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp được giao.
Trong đó, Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục tổ chức có hiệu quả các khóa đào tạo hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng cường năng lực quản trị, minh bạch tài chính để tiếp cận tốt hơn tín dụng; tổ chức đào tạo nâng cao nghiệp vụ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cho cán bộ các bộ, ngành, địa phương và hiệp hội doanh nghiệp. Rà soát, sửa đổi Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ ban hành quy định về đăng ký doanh nghiệp để giảm chi phí khởi sự kinh doanh cho các doanh nghiệp, trình Chính phủ theo chương trình công tác năm 2018.
Thủ tướng giao Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Tư pháp thực hiện các biện pháp cụ thể nhằm tháo gỡ ngay vướng mắc cho doanh nghiệp về thuế, các quy định về đất đai; giao Bộ Giao thông vận tải, Bộ Khoa học công nghệ và Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới khoa học công nghệ.
Bên cạnh đó, Thủ tướng chỉ đạo Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Định, Bình Thuận, Cao Bằng, Hải Phòng, Đắk Lắk, Long An, Nam Định, Trà Vinh khẩn trương thành lập, công khai đường dây nóng, hỏi đáp trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố để tiếp nhận và xử lý các vướng mắc, khó khăn của doanh nghiệp.
Các bộ, ngành, địa phương nâng cao chất lượng công tác đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp, giải quyết thực chất, dứt điểm các vướng mắc của doanh nghiệp, công khai kết quả theo dõi, giám sát quá trình xử lý sau đối thoại với doanh nghiệp, và đề xuất tới các cơ quan có thẩm quyền nếu có những bất cập trong quy định pháp luật.
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đẩy mạnh phát động phong trào “Hàng Việt Nam chinh phục người Việt Nam” và vận động các doanh nghiệp nói không với tiêu cực.
Có thể thấy, thông qua Chỉ thị số 07/CT-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã có những chỉ đạo cụ thể và kịp thời, đưa ra định hướng giải quyết những vướng mắc cũng như hỗ trợ tháo gỡ các khó khăn cho doanh nghiệp, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp trong thời gian tới.
Ngày 12/03/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 40/2018/NĐ-CP về hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp, quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 02/05/2018.
Theo đó, Nghị định số 40/2018/NĐ-CP quy định tổ chức đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp phải đáp ứng các điều kiện:
– Là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam theo quy định của pháp luật và chưa từng bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp;
– Có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên;
– Doanh nghiệp bán hàng đa cấp phải ký quỹ tại một ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam;
– Có hệ thống công nghệ thông tin quản lý mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp, trang thông tin điện tử để cung cấp thông tin về doanh nghiệp và hoạt động bán hàng đa cấp của doanh nghiệp; Có hệ thống thông tin liên lạc để tiếp nhận, giải quyết thắc mắc, khiếu nại của người tham gia bán hàng đa cấp;
– Doanh nghiệp bán hàng đa cấp phải thực hiện đăng ký với Sở Công Thương các tỉnh, thành phố và chỉ được phép hoạt động khi đã có xác nhận đăng ký hoạt động bằng văn bản của các địa phương này.
Bên cạnh đó, Nghị định số 40/2018/NĐ-CP cũng quy định những hành vi bị cấm trong hoạt động kinh doanh đa cấp, cụ thể như sau:
1. Yêu cầu người khác phải đặt cọc hoặc nộp một khoản tiền nhất định để được ký hợp đồng bán hàng;
2. Yêu cầu người khác phải mua một lượng hàng hóa nhất định để được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp;
3. Cho người tham gia bán hàng đa cấp nhận tiền hoặc lợi ích kinh tế khác từ việc giới thiệu người khác tham gia vào hoạt động bán hàng đa cấp;
4. Cung cấp thông tin gian dối về kế hoạch trả thưởng, về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
5. Cung cấp thông tin gian dối gây nhầm lẫn về tính năng, công dụng của hàng hóa hoặc hoạt động của doanh nghiệp;
6. Không sử dụng hệ thống quản lý người tham gia bán hàng đa cấp đã đăng ký với cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp để quản lý bán hàng đa cấp.
Nghị định số 40/2018/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ góp phần làm minh bạch thông tin hoạt động của các doanh nghiệp bán hàng đa cấp cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước. Đồng thời, các quy định mới này sẽ góp phần bảo vệ chặt chẽ hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bán hàng đa cấp.