Ngày 29/12/2017, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 21/2017/TT-NHNN quy định về phương thức giải ngân vốn cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/04/2018.
Theo đó, Thông tư số 21/2017/TT-NHNN quy định về phương thức giải ngân vốn cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài như sau:
1. Phương thức giải ngân vốn cho vay sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt:
– Tổ chức tín dụng cho vay phải sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt để giải ngân vốn cho vay vào tài khoản thanh toán của khách hàng tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trong các trường hợp:
+ Khách hàng thanh toán, chi trả cho các mục đích sử dụng vốn vay mà pháp luật quy định phải thực hiện thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng;
+ Khách hàng là bên thụ hưởng có tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, đã ứng vốn tự có để thanh toán, chi trả các chi phí thuộc chính phương án, dự án kinh doanh hoặc phương án, dự án phục vụ đời sống được tổ chức tín dụng cho vay quyết định cho vay theo quy định của pháp luật;
+ Khách hàng trực tiếp thanh toán, chi trả tiền mua sản phẩm nông nghiệp thuộc lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản từ cá nhân, hộ gia đình, chủ trang trại, hộ kinh doanh và tổ hợp tác có hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn nông thôn để khách hàng thực hiện phương án sản xuất kinh doanh, phù hợp với mục đích vay vốn ghi trong thỏa thuận cho vay;
– Tổ chức tín dụng cho vay phải sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của pháp luật để giải ngân vốn cho vay vào tài khoản thanh toán của bên thụ hưởng tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đối với trường hợp:
+ Không thuộc đối tượng giải ngân vốn cho vay vào tài khoản thanh toán của khách hàng tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán nêu trên;
+ Khách hàng thanh toán, chi trả cho bên thụ hưởng (không bao gồm pháp nhân) có tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán với số tiền vay ghi trong thỏa thuận cho vay có giá trị không vượt quá 100.000.000 đồng.
2. Phương thức giải ngân vốn cho vay bằng tiền mặt chỉ áp dụng trong các trường hợp sau:
– Khách hàng thanh toán, chi trả cho bên thụ hưởng (không bao gồm pháp nhân) không có tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán;
– Khách hàng là bên thụ hưởng (không bao gồm pháp nhân) không có tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, đã ứng vốn tự có để thanh toán, chi trả các chi phí thuộc chính phương án, dự án kinh doanh hoặc phương án, dự án phục vụ đời sống được tổ chức tín dụng cho vay quyết định cho vay theo quy định của pháp luật;
– Khách hàng thanh toán, chi trả cho bên thụ hưởng là tổ chức sử dụng vốn nhà nước.
Như vậy, Thông tư số 21/2017/TT-NHNN là cơ sở pháp lý để các tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng Nhà nước thực hiện hoạt động giải ngân vốn cho vay đối với khách hàng triệt để áp dụng theo phương thức thanh toán bằng chuyển khoản; hạn chế tối đa sử dụng phương thức dùng tiền mặt. Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý tiền tệ, giao dịch tài chính trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
Ngày 22/09/2018, Bộ Giao thông Vận tải đã ban hành Thông tư số 31/2017/TT-BGTVT quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về kính an toàn của xe ô tô, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lốp hơi dùng cho ô tô, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đặc tính quang học đèn chiếu sáng phía trước của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/04/2018.
Theo đó, Thông tư số 31/2017/TT-BGTVT ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với một số bộ phận của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, cụ thể như sau:
1. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về kính an toàn của xe ô tô: Mã số: QCVN 32:2017/BGTVT.
2. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lốp hơi dùng cho ô tô: Mã số: QCVN 34:2017/BGTVT.
3. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đặc tính quang học đèn chiếu sáng phía trước của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ: Mã số: QCVN 35:2017/BGTVT.
Ngoài ra, Thông tư này cũng quy định Chánh Văn phòng Bộ, Chánh Thanh tra Bộ, các Vụ trưởng, Cục trưởng Cục Đăng kiểm Việt Nam, Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan khác chịu trách nhiệm thi hành, đảm bảo các Quy chuẩn được thực hiện đúng tinh thần cũng như phương hướng đề ra.
Bằng việc ban hành các Quy chuẩn kỹ thuật nêu trên, Thông tư số 31/2017/TT – BGTVT đã xây dựng được những thước đo rõ ràng, cụ thể đối với các vấn đề về kỹ thuật của các phương tiện giao thông cơ giới, qua đó tạo điều kiện cũng như phối hợp với các cơ quan ban ngành có liên quan trong hoạt động quản lý, kiểm soát việc sử dụng các phương tiện giao thông này.
Ngày 06/02/2018, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 02/2018/TT-BXD quy định về bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng công trình và chế độ báo cáo công tác bảo vệ môi trường ngành xây dựng. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/04/2018.
Theo đó, Thông tư số 02/2018/TT-BXD đã quy định rõ trách nhiệm của chủ dự án, nhà thầu thi công trong việc bảo vệ môi trường và khi thực hiện dự án xây dựng như sau:
1. Trách nhiệm của chủ dự án:
– Lập kế hoạch quản lý và bảo vệ môi trường trên cơ sở chương trình quản lý môi trường trong báo cáo đánh giá tác động môi trường/Kế hoạch bảo vệ môi trường đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt/xác nhận.
– Bố trí nhân sự phụ trách về môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường để kiểm tra, giám sát nhà thầu thực hiện kế hoạch quản lý và bảo vệ môi trường và các quy định về bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng.
– Trên cơ sở các biện pháp bảo vệ môi trường đã được phê duyệt trong báo cáo đánh giá tác động môi trường/kế hoạch bảo vệ môi trường đã được cấp có thẩm quyền xác nhận, chủ dự án có trách nhiệm bố trí đầy đủ kinh phí để thực hiện kế hoạch quản lý và bảo vệ môi trường trong quá trình thi công xây dựng.
– Tổ chức kiểm tra, giám sát các nhà thầu tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng công trình.
– Đình chỉ thi công và yêu cầu nhà thầu khắc phục để đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường khi phát hiện nhà thầu vi phạm nghiêm trọng các quy định về bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng công trình hoặc có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường nghiêm trọng.
– Phối hợp với nhà thầu thi công xây dựng công trình xử lý, khắc phục khi xảy ra ô nhiễm, sự cố môi trường; kịp thời báo cáo, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để giải quyết ô nhiễm, sự cố môi trường nghiêm trọng và các vấn đề phát sinh.
2. Trách nhiệm của nhà thầu xây dựng:
– Thực hiện kế hoạch quản lý và bảo vệ môi trường và các quy định về bảo vệ môi trường trong quá trình thi công gói thầu.
– Bố trí nhân sự phụ trách về môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường để thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường theo Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc Kế hoạch bảo vệ môi trường của dự án.
– Xây dựng và thực hiện nội quy, quy định về bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng công trình;
– Tổ chức lập, trình chủ dự án chấp thuận các giải pháp kỹ thuật, biện pháp bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng công trình.
– Tổ chức tập huấn, phổ biến hướng dẫn các nội quy, quy trình, biện pháp bảo vệ môi trường cho cán bộ, công nhân, người lao động và các đối tượng có liên quan trên công trường.
– Dừng thi công xây dựng công trình khi phát hiện nguy cơ xảy ra ô nhiễm, sự cố môi trường nghiêm trọng và có biện pháp khắc phục để đảm bảo tuân thủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường trước khi tiếp tục thi công.
– Thực hiện các nội dung khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
Như vậy, với việc ban hành Thông tư số 02/2018/TT-BXD, Nhà nước đã đưa ra những quy định nhằm gắn chặt trách nhiệm của chủ dự án, nhà thầu thi công với công tác bảo vệ môi trường, tạo tiền đề quan trọng trong chiến lược bảo vệ môi trường hiện nay.
Ngày 12/02/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 20/2018/TT-BTC hướng dẫn về chế độ tài chính đối với quỹ tín dụng nhân dân. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 29/3/2018.
Theo đó, Thông tư số 20/2018/TT-BTC có một số điểm nổi bật như sau:
1. Quy định về vốn chủ sở hữu của quỹ tín dụng nhân dân bao gồm:
– Vốn điều lệ là tổng số vốn do các thành viên góp và được ghi vào điều lệ quỹ tín dụng nhân dân, hạch toán bằng đồng Việt Nam;
– Chênh lệch đánh giá lại tài sản là chênh lệch giữa giá trị ghi sổ của tài sản với giá trị đánh giá lại tài sản theo quyết định của Nhà nước hoặc các trường hợp đánh giá lại tài sản khác theo quy định của pháp luật;
– Các quỹ bao gồm: Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, Quỹ đầu tư phát triển, Quỹ dự phòng tài chính;
– Lợi nhuận lũy kế chưa phân phối; lỗ lũy kế chưa xử lý;
– Vốn khác thuộc sở hữu của quỹ tín dụng nhân dân.
2. Quy định về quản lý và sử dụng vốn, tài sản:
– Việc thực hiện hạch toán vốn, tài sản theo đúng chế độ kế toán hiện hành; phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời tình hình sử dụng, biến động của vốn và tài sản trong quá trình kinh doanh; quy định rõ trách nhiệm và hình thức xử lý đối với từng bộ phận, cá nhân trong trường hợp làm hư hỏng, mất mát tài sản, tiền vốn của quỹ.
– Quỹ tín dụng nhân dân được mua, đầu tư vào tài sản cố định phục vụ trực tiếp cho hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc giá trị còn lại của tài sản cố định không vượt quá 50% vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ ghi trên sổ sách kế toán của quỹ tín dụng nhân dân.
– Đối với những tài sản đi thuê, nhận cầm cố, nhận thế chấp, nhận bảo quản giữ hộ của khách hàng, quỹ tín dụng nhân dân có trách nhiệm quản lý, bảo quản hoặc sử dụng theo thỏa thuận với khách hàng phù hợp với quy định của pháp luật.
3. Quy định về doanh thu của quỹ tín dụng nhân dân:
– Các khoản thu của quỹ tín dụng nhân dân phải được xác định phù hợp với các chuẩn mực kế toán Việt Nam và các quy định của pháp luật có liên quan, có hóa đơn hoặc chứng từ hợp lệ và phải được hạch toán đầy đủ vào doanh thu.
– Doanh thu từ hoạt động kinh doanh của quỹ tín dụng nhân dân bao gồm các khoản thu sau: Thu từ lãi và các khoản thu nhập tương tự; thu nhập từ hoạt động dịch vụ; thu từ hoạt động góp vốn tại Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam và thu từ các hoạt động khác, các khoản thu khác như các khoản nợ đã xử lý bằng dự phòng rủi ro, thu từ nghiệp vụ mua bán nợ, thu từ việc chuyển nhượng, thanh lý tài sản,…
Ngoài ra, Thông tư cũng quy định cụ thể về trách nhiệm của cơ quan quản lý và quỹ tín dụng nhân dân, theo đó, định kỳ 6 tháng (trước ngày 31/7) và hàng năm (trước ngày 31/3 năm kế tiếp) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm thông báo cho Bộ Tài chính tình hình tài chính của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân theo quy định.
Thông tư số 20/2018/TT-BTC quy định chi tiết về chế độ tài chính của quỹ tín dụng nhân dân, góp phần tăng cường hơn nữa vai trò quản lý của Nhà nước trước sự đổ bể của một số quỹ tín dụng nhân dân trong thời gian gần đây, hạn chế rủi ro cho người gửi.
Ngày 14/03/2018, Bộ Y tế đã ban hành Công văn số 4338/QLD-PCD về giải đáp một số nội dung thắc mắc về điều kiện kinh doanh đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài liên quan đến lĩnh vực dược phẩm. Công văn này có hiệu lực kể từ ngày 14/03/2018.
Theo đó, Công văn số 4338/QLD-PCD đã đưa ra giải thích về quy định về điều kiện đối với doanh nghiệp nhập khẩu và phân phối thuốc như sau:
1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bảo quản và vận chuyển của nước ngoài cũng phải tuân theo quy định của Luật Dược năm 2016 về việc đáp ứng các điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược đối với cơ sở nhập khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuốc, trong đó có điều kiện cơ sở phải có địa điểm, kho bảo quản thuốc, trang thiết bị bảo quản, phương tiện vận chuyển, hệ thống quản lý chất lượng, tài liệu chuyên môn kỹ thuật và nhân sự.
2. Doanh nghiệp nước ngoài có thể tự xây kho để bảo quản thuốc do chính doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu. Trường hợp doanh nghiệp nước ngoài chưa xây kho hoặc chưa sở hữu kho thì có thể thuê kho bảo quản thuốc, nguyên liệu làm thuốc đáp ứng GSP của doanh nghiệp Việt Nam. Trong trường hợp thuê kho, doanh nghiệp nước ngoài phải chịu trách nhiệm trực tiếp vận hành và quản lý kho bảo quản thuốc và nguyên liệu làm thuốc đó.
Vì vậy, nếu cho phép doanh nghiệp nước ngoài thực hiện quyền nhập khẩu được thuê dịch vụ bảo quản từ một doanh nghiệp nước ngoài khác thì sẽ không đáp ứng yêu cầu về việc doanh nghiệp nhập khẩu phải trực tiếp chịu trách nhiệm vận hành và quản lý kho như đã nêu ở trên. Nếu cho phép tất cả doanh nghiệp nhập khẩu (bao gồm doanh nghiệp nhập khẩu trong nước và doanh nghiệp nước ngoài thực hiện quyền nhập khẩu) được sử dụng dịch vụ bảo quản của bên thứ ba thì sẽ dẫn đến tình trạng cơ sở nhập khẩu không thực hiện đầy đủ và hết trách nhiệm trong việc quản lý, đảm bảo chất lượng thuốc nhập khẩu. Khi đó, vai trò của các doanh nghiệp nhập khẩu chỉ còn là đứng tên trên tờ khai hải quan
Như vậy, có thể thấy, Công văn số 4338/QLD-PCD đã kịp thời hướng dẫn để giải quyết các vướng mắc phát sinh trên thực tế về điều kiện trong hoạt động xuất nhập khẩu, kinh doanh sản xuất dược phẩm đối với các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam.
Ngày 06/02/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 13/2018/TT-BTC quy định việc quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác điều ước quốc tế và công tác thỏa thuận quốc tế. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 02/04/2018.
Theo đó, Thông tư số 13/2018/TT-BTC quy định về mức chi áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế theo quy định tại Luật Điều ước quốc tế năm 2016 và Pháp lệnh ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế năm 2007, cụ thể như sau:
1. Các nội dung chi tổ chức hội nghị trong nước, công tác phí cho cán bộ đi công tác trong nước, thực hiện theo mức chi quy định tại Thông tư số 40/2017/TT-BTC; chi công tác phí cho cán bộ đi công tác ở nước ngoài theo quy định tại Thông tư số 102/2012/TT-BTC; chi làm đêm, làm thêm giờ, theo mức chi quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2005/TTLT-BNV-BTC.
2. Chi rà soát văn bản trong nước và rà soát, thống kê các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế trong cùng lĩnh vực phục vụ trực tiếp công tác xây dựng điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế…thực hiện theo mức chi quy định tại Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP.
3. Về các khoản chi khác gồm: Cấp bản sao điều ước quốc tế; chi phí sao lục, in ấn tài liệu; chi mua, thu thập tài liệu; chi mua văn phòng phẩm phục vụ trực tiếp cho soạn thảo điều ước quốc tế thì thực hiện theo chứng từ chi thực tế, theo hợp đồng của đơn vị cung ứng. Trường hợp thu thập tài liệu phải có bảng kê khai ký nhận tiền của người cung cấp tài liệu.
4. Các khoản chi đóng góp tài chính theo điều ước quốc tế, mức đóng góp thực hiện căn cứ vào quy định của điều ước quốc tế, tổ chức quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp có sự thay đổi mức đóng góp tài chính thì cơ quan chủ trì thực hiện điều ước quốc tế lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính và cơ quan có liên quan; trình Thủ tướng Chính phủ quyết định làm căn cứ đóng góp.
5. Đối với một số chế độ, mức chi có tính chất đặc thù như chi soạn thảo mới dự thảo điều ước quốc tế là 8 triệu đồng/dự thảo văn bản; soạn thảo dự thảo sửa đổi, bổ sung, gia hạn là 5 triệu đồng/dự thảo văn bản. Trường hợp chi cho các cá nhân tham gia cuộc họp, mức chi cho người chủ trì là 150.000 đồng/người/buổi; các thành viên tham dự là 100.000 đồng/người/buổi…
6. Các khoản chi phí khác phát sinh phục vụ trực tiếp công tác điều ước quốc tế, công tác thỏa thuận quốc tế thì thanh toán theo hoá đơn, chứng từ chi tiêu thực tế hợp pháp theo quy định của Luật Kế toán và nằm trong phạm vi dự toán ngân sách đã được giao.
Như vậy, có thể thấy, Thông tư số 13/2018/TT-BTC đã có những quy định cụ thể và chi tiết về mức chi ngân sách cho các hoạt động liên quan tới công tác điều ước quốc tế và công tác thỏa thuận quốc tế theo hướng minh bạch, rõ ràng hơn so với các văn bản trước đây.
Ngày 22/02/2018, Bộ Tài Chính đã ban hành Thông tư số 22/2018/TT-BTC quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định điều kiện kinh doanh để cấp Giấy phép sản xuất rượu, Giấy phép sản xuất thuốc lá. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 08/04/2018.
Theo đó, Thông tư số 22/2018/TT-BTC đã quy định cụ thể về tổ chức thu phí như sau:
1. Bộ Công Thương là cơ quan cấp Giấy phép sản xuất rượu công nghiệp có quy mô từ 03 triệu lít/năm trở lên và Giấy phép phân phối rượu;
2. Sở Công Thương là cơ quan cấp Giấy phép sản xuất rượu công nghiệp có quy mô dưới 03 triệu lít/năm và Giấy phép bán buôn rượu trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
3. Phòng Kinh tế hoặc Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là cơ quan cấp Giấy phép sản xuất rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh, Giấy phép bán lẻ rượu và Giấy phép bán rượu tiêu dùng tại chỗ trên địa bàn quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
4. Bộ Công Thương là cơ quan cấp, cấp lại, sửa đổi bổ sung Giấy phép chế biến nguyên liệu thuốc lá.
Thông tư này ban hành nhằm sửa đổi các quy định về tổ chức thu phí tại Điều 4 Thông tư 299/2016/TT-BTC thay thế Điều 9, Điều 11 Nghị định số 94/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ.
Như vậy, có thể thấy, Thông tư số 22/2018/TT-BTC đã có những quy định cụ thể và chi tiết hơn về thẩm quyền, chức năng và nhiệm vụ của từng cơ quan cấp phép, từ đó quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan thu phí, quản lý và sử dụng phí thẩm định điều kiện kinh doanh để cấp Giấy phép sản xuất rượu, Giấy phép sản xuất thuốc lá.
Ngày 21/03/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 48/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 98/2013/NĐ-CP ngày 28/8/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 10/05/2018.
Theo đó, Nghị định số 48/2018/NĐ-CP có một số nội dung chính như sau:
1. Đối tượng bị áp dụng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số gồm:
– Cá nhân, tổ chức Việt Nam, cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số;
– Tổ chức là đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số theo quy định gồm: Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, văn phòng đại diện của doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, văn phòng đại diện của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài, đại lý bảo hiểm là tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh xổ số, đại lý xổ số là tổ chức và các tổ chức khác có liên quan quy định tại Nghị định này.
2. Hành vi vi phạm các quy định về Giấy phép thành lập và hoạt động, Giấy phép đặt Văn phòng đại diện doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm bị phạt cảnh cáo gồm:
– Không thực hiện đăng báo hàng ngày trong 05 số báo liên tiếp về những nội dung phải công bố theo quy định của pháp luật;
– Công bố không đúng thời hạn một trong những nội dung trong Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy phép đặt Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật; Không công bố các nội dung hoặc nội dung sửa đổi, bổ sung tại Giấy phép đặt Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật
3. Bổ sung quy định đối với hành vi sửa chữa Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy phép đặt Văn phòng đại diện, ngoài bị phạt từ 20 – 30 triệu đồng còn bị tịch thu tang vật.
4. Quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về quản trị, điều hành, kiểm soát, cụ thể bao gồm:
– Phạt tiền từ 20 – 30 triệu đồng đối với hành vi bổ nhiệm Tổng Giám đốc/Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc/Phó Giám đốc, Giám đốc chi nhánh, Trưởng Văn phòng đại diện doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm kiêm nhiệm chức danh người đứng đầu của quá một chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoặc các bộ phận nghiệp vụ. Bổ nhiệm Giám đốc, Phó Giám đốc của chi nhánh nước ngoài kiêm nhiệm chức danh người đứng đầu của quá một bộ phận nghiệp vụ của chi nhánh đó.
– Phạt tiền từ 20 – 30 triệu đồng đối với hành vi bổ nhiệm chuyên gia tính toán của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe, chuyên gia tính toán dự phòng và khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài đồng thời kiêm nhiệm các chức danh Tổng Giám đốc (Giám đốc), kế toán trưởng.
– Phạt tiền từ 40 – 50 triệu đồng đối với hành vi bổ nhiệm các Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc), chuyên gia tính toán, Giám đốc Chi nhánh, Trưởng Văn phòng đại diện, Trưởng Ban Kiểm soát, Kiểm soát viên, Trưởng Ban kiểm toán nội bộ, người đứng đầu các bộ phận nghiệp vụ, thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên không đáp ứng được các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật.
– Phạt tiền từ 90 – 100 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm về gian lận trong kinh doanh bảo hiểm mà số tiền chiếm đoạt dưới 20.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại dưới 50.000.000 đồng hoặc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Có thể thấy, Nghị định số 48/2018/NĐ-CP đã quy định chi tiết hơn so với trước đây về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh xổ số, góp phần tạo ra một hành lang pháp lý rõ ràng và minh bạch, thúc đẩy các hoạt động trong kinh doanh bảo hiểm và xổ số phát triển, đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Ngày 09/02/2018, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 17/2018/TT-BTC sửa đổi Thông tư số 305/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí dịch vụ duy trì hệ thống kiểm tra trạng thái chứng thư số. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 26/03/2018.
Theo đó, Thông tư số 17/2018/TT-BTC đưa ra một số thay đổi đáng chú ý như sau:
1. Thu hẹp đối tượng áp dụng quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí dịch vụ duy trì hệ thống kiểm tra trạng thái chứng thư số, cụ thể là Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số ký hợp đồng với thuê bao trước ngày 01/01/2017 không thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư này.
2. Điều chỉnh mức thu phí dịch vụ duy trì trạng thái chứng thư số:
– Đối với đối tượng thuê bao là tổ chức, doanh nghiệp (không bao gồm đối tượng thuê bao là cá nhân), trừ chứng thư số đang còn hiệu lực theo hợp đồng ký trước ngày 01 tháng 01 năm 2017, áp dụng mức thu phí dịch vụ duy trì hệ thống kiểm tra trạng thái chứng thư số: 3.000 đồng/tháng/01 chứng thư số của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số.
– Đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cấp cho thuê bao theo hợp đồng ký trước ngày 01 tháng 01 năm 2017: không phải nộp phí từ ngày 01 tháng 07 năm 2017 đến khi hết hạn hợp đồng.
3. Quy định rõ trường hợp chứng thư số do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cấp cho thuê bao phát sinh hiệu lực hoạt động tại bất cứ thời điểm nào của tháng được tính là 01 (một) tháng sử dụng.
Như vậy, Thông tư số 17/2018/TT-BTC đã có sự điều chỉnh về cả đối tượng và mức phí thu để phù hợp với thực tế, góp phần khuyến khích các cá nhân, tổ chức trong xã hội tăng cường sử dụng dịch vụ này.
Ngày 14/03/2018, Tổng cục Hải quan ban hành Công văn số 1338/TCHQ-GSQL quy định về quy định về thể thức C/O mẫu D. Công văn này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Công văn số 1338/TCHQ-GSQL quy định:
1. Đối với các C/O mẫu D do Thái Lan, Lào, Philippines, Indonesia, Brunei, Cambodia, Myanmar, Việt Nam phát hành, thể thức C/O với dòng chữ “ORIGINAL” lệch sang bên phải không ảnh hưởng đến tính hợp lệ của C/O.
2. Cơ quan Hải quan xem xét chấp nhận C/O mẫu D có chữ “ORIGINAL” góc bên phải C/O.
Công văn này được ban hành nhằm giải quyết vướng mắc theo phản ánh của một số Cục Hải quan các tỉnh, thành phố về việc nhận được thể thức C/O mẫu D của một số nước tham gia Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) cấp không đúng mẫu, cụ thể C/O mẫu D do Singapore, Malaysia, Thái Lan, Lào, Philippines, Indonesia, Cambodia, Myanmar, Việt Nam phát hành với dòng chữ “ORIGINAL” lệch sang bên phải trong khi mẫu theo cam kết tại Hiệp định vị trị chữ “ORIGINAL” nằm ở giữa trang.
Qua Công văn số 1338/TCHQ-GSQL, có thể thấy, Tổng cục Hải quan đã và đang sát sao với các vấn đề của ngành, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các phòng ban cũng như từng cán bộ hải quan, đồng thời đảm bảo cho quyền và lợi ích chính đáng của các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu.