Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Một số chính sách mới về phát triển thủy sản trong năm 2018
Trả lời

Ngày 02/02/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 17/2018/NĐ-CP quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/07/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 25/03/2018.

Theo đó, Nghị định số 17/2018/NĐ-CP đưa ra một số điểm mới đáng chú ý như sau:

1. Về chính sách đầu tư: Ngân sách trung ương đầu tư 100% kinh phí xây dựng các hạng mục thiết yếu của cảng cá loại I, khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng (bao gồm cầu cảng; kè bờ, kè chắn sóng, chắn cát; nạo vét luồng ra vào cảng, vùng nước neo đậu tàu; công trình neo buộc tàu; hệ thống xử lý nước thải; nhà phân loại; nhà điều hành; sân và đường nội bộ; hệ thống đèn chiếu sáng; hệ thống phao tiêu, báo hiệu, đèn tín hiệu; hệ thống thông tin liên lạc chuyên dùng) và đầu tư xây dựng 05 Trung tâm nghề cá lớn (cảng cá động lực).

2. Bổ sung cơ chế xử lý rủi ro trong chính sách tín dụng: cho phép thực hiện cơ chế chuyển đổi chủ tàu trong trường hợp chủ tàu không còn khả năng tiếp tục thực hiện dự án đóng mới, nâng cấp tàu hoặc chủ tàu đã hoàn thành đóng mới nhưng không đủ năng lực để hoạt động khai thác hải sản, chủ tàu mới tiếp tục được hưởng hỗ trợ lãi suất khi nhận bàn giao lại tàu và khoản nợ vay từ chủ tàu cũ.

3. Bổ sung chính sách hỗ trợ một lần sau đầu tư: đối tượng được hỗ trợ là chủ tàu đóng mới và sở hữu tàu khai thác hải sản xa bờ hoặc tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ có tổng công suất máy chính từ 800 CV trở lên.

4. Ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí mua bảo hiểm cho các tàu khai thác hải sản xa bờ, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ là thành viên tổ đội, nghiệp đoàn nghề cá, hợp tác xã khai thác hải sản và có tổng công suất máy chính từ 90 CV trở lên. Cụ thể, hỗ trợ hàng năm 100% kinh phí mua bảo hiểm tai nạn thuyền viên cho mỗi thuyền viên làm việc trên tàu. Hỗ trợ hàng năm 50% kinh phí mua bảo hiểm thân tàu (bảo hiểm mọi rủi ro đối với thân tàu, không bao gồm trang thiết bị đánh bắt hải sản, ngư lưới cụ trên tàu).

Việc ra đời Nghị định số 17/2018/NĐ-CP là một bước tiến quan trọng đối với chính sách phát triển thủy sản của Việt Nam. Nghị định này là cơ sở đảm bảo cho việc áp dụng có hiệu quả quản lý trên thực tiễn của các cơ quan có thẩm quyền, nâng cao quyền lợi của nhóm lao động trong lĩnh vực thủy sản, tạo nền tảng cho việc hội tụ các nguồn lực kinh tế cũng như cơ chế để thúc đẩy lĩnh vực thủy sản phát triển một cách mạnh mẽ và bền vững.

Quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
Trả lời

Ngày 12/03/2018, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 04/2018/TT-NHNN sửa đổi Thông tư số 08/2017/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.

Theo đó, Thông tư số 04/2018/TT-NHNN đưa ra một số điểm mới đáng chú ý như sau:

1. Bố sung thêm 04 biện pháp xử lý trong giám sát ngân hàng, bao gồm:

– Khuyến nghị, cảnh báo;

– Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;

– Áp dụng can thiệp sớm;

– Kiến nghị cấp có thẩm quyền các biện pháp xử lý giám sát ngân hàng khác theo quy định của pháp luật.

2. Quy định cụ thể về thẩm quyền áp dụng can thiệp sớm đối với đối tượng giám sát ngân hàng, cụ thể là:

– Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi không có Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xem xét, ban hành văn bản áp dụng can thiệp sớm đối với đối tượng giám sát ngân hàng;

– Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng xem xét, ban hành văn bản áp dụng can thiệp sớm đối với đối tượng giám sát ngân hàng là quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô trên địa bàn nơi có Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng;

– Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi không có Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng xem xét, ban hành văn bản áp dụng can thiệp sớm đối với đối tượng giám sát ngân hàng là quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô trên địa bàn.

3. Quy định về theo dõi, đôn đốc, đánh giá việc thực hiện phương án khắc phục của đối tượng giám sát ngân hàng áp dụng can thiệp sớm.

Như vậy, bằng những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng, Thông tư số 04/2018/TT-NHNN được kỳ vọng sẽ là khung pháp lý đảm bảo tính chính xác, khách quan, trung thực, công khai, kịp thời của hoạt động này, đồng thời không làm cản trở hoạt động bình thường của đối tượng bị giám sát.

Ban hành kế hoạch triển khai thực hiện đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư năm 2018
Trả lời

Ngày 15/03/2018, Trưởng Ban Chỉ đạo 896 đã ban hành Quyết định số 111/QĐ-BCĐ896 về kế hoạch triển khai thực hiện đề án tổng thể đơn giản hoá thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư năm 2018. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó, Quyết định số 111/QĐ-BCĐ896 đề ra kế hoạch ba giai đoạn:

1. Quý I/2018 yêu cầu đặt ra là phải xây dựng kế hoach triển khai, với mục tiêu kết quả đạt được là phải ban hành được Quyết định phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án của Văn phòng Ban Chỉ đạo, Bộ, ngành và địa phương. Nhiệm vụ này gắn với trách nhiệm của Văn phòng Ban Chỉ đạo; các Bộ, ngành và Ban Chỉ đạo 896 các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương.

2. Quý II/2018 nhiệm vụ là rà soát, đề xuất phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư của các Bộ, ngành. Nhiệm vụ này phải đạt được các yêu cầu cơ bản cụ thể như sau:

– Báo cáo kết quả rà soát;

– Ban hành được Nghị quyết của Chính phủ về phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân thuộc phạm vi chức năng quản lý của các Bộ, ngành;

– Quyết định ban hành Kế hoạch triển khai Nghị quyết Chính phủ của các Bộ, ngành;

Đối với nhiệm vụ trong Quý II này yêu cầu sự chủ trì của Bộ Nội vụ, các bộ ngành và sự phối hợp thực hiện của Văn phòng Ban Chỉ đạo, Văn phòng Chính phủ.

3. Quý III, Quý IV/2018, đồng thời là nhiệm vụ xuyên suốt của năm 2018 chính là xây dựng hoàn thành Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Hoàn thành nhiệm vụ này là cơ sở quan trọng để thực hiện và triển khai các nhiệm vụ tiếp theo.

Như vậy, có thể thấy, vấn đề đơn giản hoá thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư tương đối phức tạp, cần nhiều thời gian, nhân lực và công sức để hoàn thiện. Tuy nhiên, với mục tiêu được định hướng rõ ràng, Quyết định số 111/QĐ-BCĐ896 được kỳ vọng sẽ mang lại những giá trị to lớn trong công cuộc cải cách thủ tục hành chính của Việt Nam.

Ban hành Quy chế phối hợp cấp phép, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam
Trả lời

Ngày 12/03/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 14/2018/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế phối hợp cấp phép, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01/05/2018.

Theo đó, Quy chế phối hợp cấp phép, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam quy định như sau:

1. Về nguyên tắc phối hợp, Quy chế quy định việc phối hợp phải bảo đảm hiệu quả, cụ thể trách nhiệm phối hợp của từng Bộ trong việc cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, gia hạn quyết định cấp phép, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam. Bảo đảm bí mật quốc gia, bảo mật thông tin theo quy định của pháp luật; bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn trên biển, hải đảo. Việc phối hợp phải trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

2. Về nội dung phối hợp, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo lấy ý kiến hồ sơ đề nghị cấp, sửa đổi, bổ sung, gia hạn quyết định cấp phép hoạt động nghiên cứu khoa học của tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành trong vùng biển Việt Nam; kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm trong quá trình nghiên cứu khoa học của người nước ngoài trong vùng biển Việt Nam. Xem xét việc thay đổi nội dung đã được cấp phép nhưng không thuộc trường hợp sửa đổi, bổ sung, gia hạn quyết định cấp phép nghiên cứu khoa học của tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành trong vùng biển Việt Nam.

3. Yêu cầu các Bộ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, lực lượng trực thuộc thực hiện phối hợp những nội dung có liên quan. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam là cơ quan đầu mối, tham mưu giúp Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện các nhiệm vụ phối hợp theo quy định.

Bằng các quy định chi tiết và cụ thể, thông qua Quyết định số 14/2018/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra những chỉ đạo rõ ràng về hoạt động nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam của các tổ chức, cá nhân nước ngoài, qua đó góp phần nâng cao chất lượng quản lý của Nhà nước, cũng như đẩy mạnh hợp tác, phối hợp giữa các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, thúc đẩy sự phát triển chung của các hoạt động trong lĩnh vực Khoa học – Công nghệ.

Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực trồng trọt và giống cây lâm nghiệp
Trả lời

Ngày 07/02/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 14/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 207/2016/TT-BTC ngày 09/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực trồng trọt và giống cây lâm nghiệp. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 26/03/2018.

Theo đó, Thông tư số 14/2018/TT-BTC đưa ra một số thay đổi mới nổi bật như sau:

1. Giảm mức thu phí bảo hộ giống cây lâm nghiệp so với quy định hiện hành đối với các thủ tục sau:

– Công nhận lâm phần tuyển chọn: 600.000 đồng/giống (giảm 150.000 đồng/giống);

– Công nhận vườn giống: 2.400.000 đồng/vườn giống (giảm 350.000 đồng/vườn giống);

– Công nhận nguồn gốc lô giống, lô con giống: 600.000 đồng/lô giống (giảm 150.000 đồng/lô giống).

2. Quy định cụ thể đối với mức phí cấp mới, cấp lại giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất phân bón (đối với cơ sở chỉ hoạt động đóng gói phân bón); giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán phân bón.

3. Bổ sung thêm hai tổ chức có thẩm quyền thu phí, lệ phí, bao gồm Cục Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật.

Thông qua Thông tư số 14/2018/TT-BTC, Bộ Tài chính đã điều chỉnh linh hoạt các quy định về mức phí, lệ phí trong lĩnh vực trồng trọt và giống cây lâm nghiệp phù hợp với diễn biến thực tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành lâm nghiệp nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung.

Quy định việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Trả lời

Ngày 07/02/2018, Bộ Công an ban hành Thông tư số 05/2018/TT-BCA quy định về việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ để nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 26/03/2018.

Theo đó, Thông tư số 05/2018/TT-BCA đưa ra một số điểm mới đáng chú ý như sau:

1. Quy định về độ tuổi của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện, cụ thể là việc xác định độ tuổi thực hiện theo quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính.

2. Quy định về xác định nơi cư trú và xác minh nơi cư trú của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được cụ thể hóa như sau:

– Việc xác định nơi cư trú của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thực hiện theo quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

– Cơ quan Công an có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị tiến hành xác minh nơi cư trú của người vi phạm. Việc xác minh được thực hiện bằng hình thức xác minh trực tiếp hoặc gửi Phiếu yêu cầu xác minh.

3. Quy định cụ thể về thành phần hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bao gồm: Bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Bản tường trình của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc của người đại diện hợp pháp của họ; Biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng ma túy trái phép; Bản sao Giấy chứng nhận đã chấp hành xong Quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Như vậy, với những quy định mới và chi tiết hơn so với các văn bản hướng dẫn trước đó, Thông tư số 05/2018/TT-BCA là một bước tiến mang tính đột phá và rất cần thiết trong lĩnh vực xử lý các vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy. Thông tư này được kỳ vọng sẽ là cơ sở pháp lý đảm bảo tốt nhất cho việc áp dụng và thực hiện có hiệu quả của các cá nhân và cơ quan có thẩm quyền.

Quy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo
Trả lời

Ngày 11/03/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó, Nghị định số 38/2018/NĐ-CP hướng dẫn về hoạt động của quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo và cơ chế sử dụng ngân sách địa phương đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, cụ thể như sau:

1. Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo không có tư cách pháp nhân, do tối đa 30 nhà đầu tư góp vốn thành lập trên cơ sở điều lệ quỹ. Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo không được góp vốn vào quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo khác.

2. Tài sản góp vốn có thể bằng Đồng Việt Nam, vàng, giá trị quyền sử dụng đất và các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. Nhà đầu tư không được sử dụng vốn vay để góp vốn thành lập quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo.

3. Danh mục và hoạt động đầu tư của quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo bao gồm: Gửi tiền tại các ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật; đầu tư không quá 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo sau khi nhận đầu tư.

4. Toàn bộ số vốn góp và tài sản của các nhà đầu tư tại quỹ phải được hạch toán độc lập với công ty thực hiện quản lý quỹ; các nhà đầu tư góp vốn thành lập quỹ tự thỏa thuận về thẩm quyền quyết định danh mục đầu tư và nội dung này phải được quy định tại điều lệ quỹ và hợp đồng với công ty thực hiện quản lý quỹ (nếu có).

5. Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo được tổ chức quản lý theo một trong các mô hình sau: Đại hội nhà đầu tư, công ty thực hiện quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo; đại hội nhà đầu tư, Ban đại diện quỹ hoặc Giám đốc quỹ, công ty thực hiện quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo; đại hội nhà đầu tư, Ban đại diện quỹ và Giám đốc quỹ, công ty thực hiện quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo.

6. Các nhà đầu tư của quỹ có thể thành lập hoặc thuê công ty thực hiện quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo. Công ty thực hiện quản lý quỹ có trách nhiệm thực hiện các thủ tục thành lập quỹ và thông báo bổ sung ngành, nghề quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp khi thực hiện quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo.

7. Hoạt động quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo quy định tại Nghị định này thực hiện theo điều lệ của quỹ, các hợp đồng ký kết với quỹ (nếu có) và không chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật về chứng khoán.

Có thể thấy, Nghị định số 38/2018/NĐ-CP đã có những quy định chi tiết về đầu tư cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt việc quy định cụ thể về quỹ đầu tư khởi nghiệp cũng như việc sử dụng ngân sách địa phương hứa hẹn sẽ tạo ra những động lực mới và mạnh mẽ thúc đẩy các hoạt động khởi nghiệp sáng tạo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của kinh tế đất nước.

Quy định tiêu chí doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trả lời

Ngày 11/03/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP quy định rõ tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa, cụ thể như sau:

– Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 03 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.

– Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 03 tỷ đồng.

– Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định.

– Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định.

– Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định.

– Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định.

Như vậy, có thể thấy, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP đã quy định cụ thể tiêu chí phân loại rõ ràng về quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ, từ đó có các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện phù hợp cho sự phát triển của các doanh nghiệp này.

Bãi bỏ một số văn bản pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng
Trả lời

Ngày 12/03/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 42/2018/NĐ-CP bãi bỏ một số Nghị định của Chính phủ trong lĩnh vực ngân hàng. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.

Theo đó, Nghị định số 42/2018/NĐ-CP đã bãi bỏ một số Nghị định sau:

1. Nghị định số 14/CP ngày 02 tháng 3 năm 1993 của Chính phủ ban hành bản Quy định về chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông – lâm – ngư – diêm nghiệp và kinh tế nông thôn.

2. Nghị định số 48/2001/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân.

3. Nghị định số 69/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 48/2001/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân.

4. Nghị định số 22/2006/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam.

5. Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại.

6. Nghị định số 05/2010/NĐ-CP ngày 18 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật phá sản đối với các tổ chức tín dụng.

Như vậy, Nghị định số 42/2018/NĐ-CP đã bãi bỏ các Nghị định trong lĩnh vực ngân hàng không còn phù hợp với thực tế hoặc đã có văn bản thay thế, sửa đổi, bổ sung.

Hướng dẫn kế toán chứng quyền có bảo đảm đối với công ty chứng khoán là tổ chức phát hành
Trả lời

Ngày 12/03/2018, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 23/2018/TT-BTC hướng dẫn kế toán chứng quyền có bảo đảm đối với công ty chứng khoán là tổ chức phát hành. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 27/04/2018.

Theo đó, Thông tư số 23/2018/TT-BTC quy định:

1. Về đối tượng áp dụng: đối với các công ty chứng khoán được phép phát hành chứng quyền có bảo đảm theo quy định của pháp luật.

2. Về nghiệp vụ kế toán: Một số tài khoản hạch toán nghiệp vụ kế toán liên quan đến chứng quyền bao gồm Tài khoản 329 – Phải trả chứng quyền; Mở tài khoản chi tiết của Tài khoản 112 – Tiền gửi ngân hàng để theo dõi tiền bảo đảm thanh toán tại ngân hàng lưu ký trước khi chào bán chứng quyền, tiền gửi tại tài khoản phong tỏa (tiền bán chứng quyền khi phân phối trên thị trường sơ cấp) và tiền gửi tại tài khoản tự doanh (để thực hiện phòng ngừa rủi ro theo yêu cầu của Sở Giao dịch chứng khoán); Tài khoản 018 – Chứng quyền.

3. Về báo cáo tài chính: Công ty chứng khoán phải thực hiện báo cáo tình hình tài chính, báo cáo kết quả hoạt động và báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Đồng thời, trong báo cáo tài chính, công ty chứng khoán phải thuyết minh bổ sung các nội dung: Lãi, lỗ đánh giá lại chứng quyền của tổ chức phát hành; Lãi, lỗ đánh giá lại tài sản cơ sở từ hoạt động phòng ngừa rủi ro của tổ chức phát hành; Tổng số tiền gửi ký quỹ đảm bảo thanh toán tại ngân hàng lưu ký của tổ chức phát hành; Tổng số tiền nộp bổ sung cho mục đích phòng ngừa rủi ro do chênh lệch giữa vị thế phòng ngừa rủi ro lý thuyết và vị thế phòng ngừa rủi ro thực tế; Tổng số chứng khoán dùng cho hoạt động phòng ngừa rủi ro; Tổng số chứng quyền được phép phát hành; Tổng số chứng quyền đang phát hành.

Bằng những hướng dẫn cụ thể và chi tiết về kỹ thuật đối với nghiệp vụ kế toán và báo cáo tài chính đối với chứng quyền có bảo đảm, Thông tư số 23/2018/TT-BTC đã xây dựng cơ sở quan trọng để các công ty chứng khoán là tổ chức phát hành triển khai loại sản phẩm chứng khoán mới này.