Ngày 16/04/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2018/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo vệ kết cấu hạ tầng đường sắt. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2018.
Theo đó, Nghị định số 56/2018/NĐ-CP này quy định về quản lý, bảo vệ kết cấu hạ tầng đường sắt, bao gồm: Đặt tên tuyến, tên ga đường sắt; tháo dỡ tuyến, đoạn tuyến, ga đường sắt; phạm vi bảo vệ công trình, hành lang an toàn giao thông đường sắt; quản lý, sử dụng, khai thác đất dành cho đường sắt; trách nhiệm quản lý, bảo vệ kết cấu hạ tầng đường sắt.
Trong đó, về phạm vi bảo vệ đường sắt, phạm vi bảo vệ trên không của đường sắt tính từ đỉnh ray trở lên theo phương thẳng đứng không nhỏ hơn trị số sau: Đối với đường sắt khổ 1000 milimét là 5,3 mét; đối với đường sắt khổ 1435 milimét là 6,55 mét; đối với đường sắt tốc độ cao là 7,7 mét; đối với tuyến đường sắt đô thị là 6,3 mét áp dụng phương thức lấy điện trên cao; 4,3 mét đối với tuyến đường sắt đô thị áp dụng phương thức lấy điện từ ray thứ ba.
Đối với các tuyến đường sắt hiện hữu đang khai thác không thỏa mãn điều kiện quy định nêu trên, khi cải tạo, nâng cấp công trình vi phạm phạm vi bảo vệ đường sắt, chủ đầu tư dự án phải có giải pháp kỹ thuật để không làm ảnh hưởng đến sự ổn định, tuổi thọ và bảo đảm an toàn cho công trình đường sắt và phải được cấp có thẩm quyền chấp thuận trước khi thực hiện.
Phạm vi bảo vệ hai bên đường sắt theo phương ngang đối với nền đường không đào, không đắp tính từ mép ngoài của ray ngoài cùng trở ra được xác định như sau: Đối với đường sắt tốc độ cao là 7,5 mét; đối với đường sắt đô thị là 5,4 mét; đối với đường sắt còn lại là 5,6 mét.
Ngoài ra, Nghị này này cũng quy định phạm vi bảo vệ hai bên đường sắt theo phương ngang đối với nền đường đào, nền đường đắp được xác định như sau: 5 mét tính từ chân nền đường đắp hoặc mép đỉnh nền đường đào; 3 mét tính từ mép ngoài rãnh dọc hay mép ngoài rãnh đỉnh của nền đường hoặc mép ngoài của công trình phòng hộ, gia cố đối với nền đường có rãnh dọc hay rãnh đỉnh, có công trình phòng hộ, gia cố của nền đường.
Có thể thấy, Nghị định số 56/2018/NĐ-CP đã có những hướng dẫn chi tiết, cụ thể về việc xác định phạm vi an toàn giao thông đường sắt, qua đó góp phần nâng cao sự hiểu biết của người dân về an toàn giao thông nói chung và an toàn giao thông đường sắt nói riêng, đồng thời giảm thiểu những sự cố đáng tiếc cũng như thắt chặt sự quản lý của Nhà nước trong hoạt động này.
Ngày 16/06/2017, Quốc hội đã ban hành Luật Đường sắt số 06/2017/QH14. Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2018.
Theo đó, Luật Đường sắt số 06/2017/QH14 quy định về quy hoạch, đầu tư, xây dựng, bảo vệ, quản lý, bảo trì và phát triển kết cấu hạ tầng đường sắt; công nghiệp đường sắt, phương tiện giao thông đường sắt; tín hiệu, quy tắc giao thông và bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường sắt; kinh doanh đường sắt; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đường sắt; quản lý nhà nước trong hoạt động đường sắt.
Đáng lưu ý, Luật Đường sắt đã quy định chi tiết về đường sắt tốc độ cao, cụ thể như sau:
Có thể thấy, các quy định về đường sắt tốc độ cao tại Luật Đường sắt năm 2017 được được kỳ vọng sẽ là bước chuẩn bị tiền đề, tạo hành lang pháp lý quan trọng làm cơ sở để quá trình đầu tư, quản lý, khai thác trong tương lai sẽ trở nên thuận lợi.
Ngày 15/05/2018, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 02/2018/TT-BKHCN quy định chế độ báo cáo thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ thuộc danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao; mẫu văn bản trong hoạt động cấp giấy phép chuyển giao công nghệ, đăng ký gia hạn, sửa đổi, bổ sung nội dung chuyển giao công nghệ. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.
Theo đó, Thông tư số 02/2018/TT-BKHCN đã có những hướng dẫn báo cáo thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ (CGCN), cụ thể như sau:
Bên nhận công nghệ trong trường hợp CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam, CGCN trong nước; và bên giao công nghệ trong trường hợp CGCN từ Việt Nam ra nước ngoài có trách nhiệm:
+ Bản báo cáo giấy do Thủ trưởng đơn vị ký tên và đóng dấu (đối với tổ chức), hoặc ký và ghi rõ họ tên (đối với cá nhân);
+ Bản báo cáo điện tử phải sử dụng định dạng file PDF, phông chữ tiếng Việt của bộ mã ký tự Unicode theo TCVN 6909:2001, nội dung phải thể hiện đúng với bản báo cáo giấy.
Bằng những quy định chi tiết và rõ ràng, Thông tư số 02/2018/TT-BKHCN đã góp phần làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cũng như có những hướng dẫn cụ thể trong hoạt động báo cáo thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ đúng với quy định của pháp luật.
Ngày 19/06/2017 Quốc hội đã ban hành Luật số 07/2017/QH14 quy định về Chuyển giao công nghệ. Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.
Theo đó, Luật số 07/2017/QH14 tập trung chủ yếu vào việc bổ sung cơ chế hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ; sửa đổi quy định về thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
Đặc biệt, Luật này đã có những bổ sung về giải pháp phát triển thị trường khoa học và công nghệ; quy định về chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp; sửa đổi quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về chuyển giao công nghệ. Các nội dung chính,cơ bản biểu hiện vào 5 nhóm vấn đề lớn, cụ thể như sau:
Có thể thấy, Luật số 07/2017/QH14 đã có những quy định chi tiết rõ ràng và phù hợp với xu thể hội nhâp quốc tế hơn so với các quy định tước đây về chuyển giao công nghệ, qua đó được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, cơ chế hỗ trợ đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ trong kinh doanh sản xuất.
Ngày 23/11/2017, Quốc hội đã ban hành Luật số 20/2017/QH14 quy định về quản lý nợ công. Luật này có hiệu lực kể tư ngày 01/07/2018.
Theo đó, Luật số 20/2017/QH14 có những nội dung mới đáng chú ý cụ thể như sau:
Ngoài ra, về xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý nợ công, Luật số 20/2017/QH14 cũng quy định người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải giải trình và chịu trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người đứng đầu cơ quan, tổ chức bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Như vậy, có thể thấy Luật số 20/2017/QH14 về quản lý nợ công đã có những quy định tiến bộ, chi tiết và rõ ràng hơn so với những quy định trước đây, điều này được kỳ vọng sẽ nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức có liên quan cũng như tăng cường sự minh bạch, chặt chẽ của quản lý Nhà nước trong các hoạt động này.
Ngày 20/06/2017 Quốc hộ đã ban hành Luật số 10/2017/QH14 quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.
Theo đó, Luật số 10/2017/QH14 đã quy định về thiệt hại được bồi thường thuộc Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cụ thể như sau:
Về phương thức quy định các thiệt hại được bồi thường, Luật này quy định về các thiệt hại được bồi thường theo hướng quy định chi tiết, cụ thể các loại thiệt hại cũng như cách thức xác định, căn cứ xác định từng loại thiệt hại được bồi thường mà không quy định theo hướng mang tính khái quát, hay mang tính nguyên tắc chung. Phương thức quy định này là phù hợp với định hướng rút ngắn thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường mà số 10/2017/QH14 quy định vì để có thể rút ngắn thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường, thì các loại thiệt hại cần phải được quy định cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác minh thiệt hại cũng như thương lượng việc bồi thường trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường.
Trong từng nhóm thiệt hại được bồi thường Luật số 10/2017/QH14 quy định thêm nhiều loại thiệt hại cụ thể được bồi thường. Việc bổ sung thêm các loại thiệt hại được bồi thường là bởi, trên thực tiễn đã phát sinh nhiều loại thiệt hại mà thực tế người bị thiệt hại đã phải gánh chịu nhưng không được bồi thường do Luật TNBTCNN 2009 chưa có quy định.
Bên cạnh đó, Luật này cũng quy định tăng mức thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong một số trường hợp như: bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù; sức khỏe bị xâm phạm; bị khởi tố, truy tố, xét xử mà không bị tạm giữ, tạm giam; bị xét xử, thi hành án cải tạo không giam giữ, phạt tù cho hưởng án treo mà không bị tạm giữ, tạm giam. Việc tăng mức bồi thường cho các thiệt hại nêu trên cho phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 và điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, cũng như bảo đảm hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại.
Có thể thấy, Luật số 10/2017/QH14 đã có những quy định mới tiến bộ, rõ ràng và chi tiết hơn so với các quy định trước đây về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, điều này được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao sự minh bạch, công bằng cũng như phát huy tốt trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong các hoạt động quản lý kinh tế – xã hội.
Ngày 26/06/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 92/2018/NĐ-CP về Quản lý và sử dụng Quỹ Tích lũy trả nợ. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2018.
Theo đó Nghị định số 92/2018/NĐ-CP quy định về Quản lý và sử dụng Quỹ Tích lũy trả nợ, trong đó nêu rõ các khoản chi của Quỹ tích lũy – quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước trả nợ , được chi cho các trường hợp cụ thể như sau:
Có thể thấy, Nghị định số 92/2018/NĐ-CP đã quy định cụ thể về hoạt động quản lý và sử dụng Quỹ tích lũy, đặc biệt việc quản lý chặt chẽ những khoản chi của Quỹ tích lũy, điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo công khai, minh bạch, đảm bảo an toàn, thanh khoản và hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng nguồn vốn của Quỹ.
Ngày 31/12/2017, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 27/2017/TT-NHNN sửa đổi Thông tư số 03/2013/TT-NHNN quy định về hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2018
Theo đó, Thông tư số 27/2017/TT-NHNN đãcó những sửa đổi, bổ sung mới quan trọng như sau:
Có thể thấy, Thông tư số 27/2017/TT-NHNN đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng, qua đó góp phần hoàn thiện những quy định trong hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.