Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Bản tin pháp luật số 25/2018
Trả lời

Hướng dẫn xác định phạm vi an toàn giao thông đường sắt
Trả lời

Ngày 16/04/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2018/NĐ-CP  quy định về quản lý, bảo vệ kết cấu hạ tầng đường sắt. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2018.

Theo đó, Nghị định số 56/2018/NĐ-CP này quy định về quản lý, bảo vệ kết cấu hạ tầng đường sắt, bao gồm: Đặt tên tuyến, tên ga đường sắt; tháo dỡ tuyến, đoạn tuyến, ga đường sắt; phạm vi bảo vệ công trình, hành lang an toàn giao thông đường sắt; quản lý, sử dụng, khai thác đất dành cho đường sắt; trách nhiệm quản lý, bảo vệ kết cấu hạ tầng đường sắt.

Trong đó, về phạm vi bảo vệ đường sắt, phạm vi bảo vệ trên không của đường sắt tính từ đỉnh ray trở lên theo phương thẳng đứng không nhỏ hơn trị số sau: Đối với đường sắt khổ 1000 milimét là 5,3 mét; đối với đường sắt khổ 1435 milimét là 6,55 mét; đối với đường sắt tốc độ cao là 7,7 mét; đối với tuyến đường sắt đô thị là 6,3 mét áp dụng phương thức lấy điện trên cao; 4,3 mét đối với tuyến đường sắt đô thị áp dụng phương thức lấy điện từ ray thứ ba.

Đối với các tuyến đường sắt hiện hữu đang khai thác không thỏa mãn điều kiện quy định nêu trên, khi cải tạo, nâng cấp công trình vi phạm phạm vi bảo vệ đường sắt, chủ đầu tư dự án phải có giải pháp kỹ thuật để không làm ảnh hưởng đến sự ổn định, tuổi thọ và bảo đảm an toàn cho công trình đường sắt và phải được cấp có thẩm quyền chấp thuận trước khi thực hiện.

Phạm vi bảo vệ hai bên đường sắt theo phương ngang đối với nền đường không đào, không đắp tính từ mép ngoài của ray ngoài cùng trở ra được xác định như sau: Đối với đường sắt tốc độ cao là 7,5 mét; đối với đường sắt đô thị là 5,4 mét; đối với đường sắt còn lại là 5,6 mét.

Ngoài ra, Nghị này này cũng quy định phạm vi bảo vệ hai bên đường sắt theo phương ngang đối với nền đường đào, nền đường đắp được xác định như sau: 5 mét tính từ chân nền đường đắp hoặc mép đỉnh nền đường đào; 3 mét tính từ mép ngoài rãnh dọc hay mép ngoài rãnh đỉnh của nền đường hoặc mép ngoài của công trình phòng hộ, gia cố đối với nền đường có rãnh dọc hay rãnh đỉnh, có công trình phòng hộ, gia cố của nền đường.

Có thể thấy, Nghị định số 56/2018/NĐ-CP đã có những hướng dẫn chi tiết, cụ thể về việc xác định phạm vi an toàn giao thông đường sắt, qua đó góp phần nâng cao sự hiểu biết của người dân về an toàn giao thông nói chung và an toàn giao thông đường sắt nói riêng, đồng thời giảm thiểu những sự cố đáng tiếc cũng như thắt chặt sự quản lý của Nhà nước trong hoạt động này.

Quy định mới về đường sắt cao tốc
Trả lời

Ngày 16/06/2017, Quốc hội đã ban hành Luật Đường sắt số 06/2017/QH14. Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2018.

Theo đó, Luật Đường sắt số 06/2017/QH14 quy định về quy hoạch, đầu tư, xây dựng, bảo vệ, quản lý, bảo trì và phát triển kết cấu hạ tầng đường sắt; công nghiệp đường sắt, phương tiện giao thông đường sắt; tín hiệu, quy tắc giao thông và bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường sắt; kinh doanh đường sắt; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đường sắt; quản lý nhà nước trong hoạt động đường sắt.

Đáng lưu ý, Luật Đường sắt đã quy định chi tiết về đường sắt tốc độ cao, cụ thể như sau:

  1. Yêu cầu chung đối với đường sắt tốc độ cao (Kết nối hiệu quả các đô thị lớn, trung tâm kinh tế, vùng kinh tế trọng điểm và phương thức vận tải khác; Bảo đảm đồng bộ, hiện đại, an toàn; …);
  2. Chính sách phát triển đường sắt tốc độ cao (Tập trung phát triển đường sắt tốc độ cao kết nối các vùng kinh tế trọng điểm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội; …);
  3. Yêu cầu đối với kết cấu hạ tầng đường sắt tốc độ cao (bảo đảm ổn định, bền vững và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về an toàn, môi trường, phòng, chống cháy, nổ; …);
  4. Quản lý, khai thác, bảo trì đường sắt tốc độ cao;
  5. Quản lý an toàn đường sắt tốc độ cao.

Có thể thấy, các quy định về đường sắt tốc độ cao tại Luật Đường sắt năm 2017 được được kỳ vọng sẽ là bước chuẩn bị tiền đề, tạo hành lang pháp lý quan trọng làm cơ sở để quá trình đầu tư, quản lý, khai thác trong tương lai sẽ trở nên thuận lợi.

Hướng dẫn báo cáo thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ
Trả lời

Ngày 15/05/2018, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 02/2018/TT-BKHCN quy định chế độ báo cáo thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ thuộc danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao; mẫu văn bản trong hoạt động cấp giấy phép chuyển giao công nghệ, đăng ký gia hạn, sửa đổi, bổ sung nội dung chuyển giao công nghệ. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.

Theo đó, Thông tư số 02/2018/TT-BKHCN đã có những hướng dẫn báo cáo thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ (CGCN), cụ thể như sau:

Bên nhận công nghệ trong trường hợp CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam, CGCN trong nước; và bên giao công nghệ trong trường hợp CGCN từ Việt Nam ra nước ngoài có trách nhiệm:

  • Gửi báo cáo định kỳ hằng năm theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư này về Bộ KH&CN trước ngày 31/12 của năm báo cáo;
  • Số liệu báo cáo được lấy từ ngày 15/12 của năm trước liền kề đến hết ngày 14/12 của năm báo cáo.
  • Báo cáo được thể hiện bằng văn bản, bao gồm:

+ Bản báo cáo giấy do Thủ trưởng đơn vị ký tên và đóng dấu (đối với tổ chức), hoặc ký và ghi rõ họ tên (đối với cá nhân);

+ Bản báo cáo điện tử phải sử dụng định dạng file PDF, phông chữ tiếng Việt của bộ mã ký tự Unicode theo TCVN 6909:2001, nội dung phải thể hiện đúng với bản báo cáo giấy.

  • Tổ chức, cá nhân nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu chính bản báo cáo giấy về Bộ KH&CN, đồng thời gửi bản báo cáo điện tử về địa chỉ email: vudtg@most.gov.vn.

Bằng những quy định chi tiết và rõ ràng, Thông tư số 02/2018/TT-BKHCN đã góp phần làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cũng như có những hướng dẫn cụ thể trong hoạt động báo cáo thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ đúng với quy định của pháp luật.

Luật Chuyển giao công nghệ chính thức có hiệu lực
Trả lời

Ngày 19/06/2017 Quốc hội đã ban hành Luật số 07/2017/QH14 quy định về Chuyển giao công nghệ. Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.

Theo đó, Luật số 07/2017/QH14 tập trung  chủ yếu vào việc bổ sung cơ chế hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ; sửa đổi quy định về thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Đặc biệt, Luật này đã có những bổ sung về giải pháp phát triển thị trường khoa học và công nghệ; quy định về chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp; sửa đổi quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về chuyển giao công nghệ. Các nội dung chính,cơ bản biểu hiện vào 5 nhóm vấn đề lớn, cụ thể như sau:

  1. Về chính sách của nhà nước đối với hoạt động chuyển giao công nghệ (CGCN) Bao quát được một cách đầy đủ tất cả những định hướng, chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, xu hướng cũng như tiếp cận hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có yêu cầu của KH&CN. Đồng thời cũng lựa chọn, xử lý được những vấn đề phát sinh căn bản liên quan đến việc tạo hành lang thông thoáng cho doanh nghiệp, khuyến khích CGCN. Bên cạnh đó, các quy định về kiểm soát được thực trạng công nghệ và ngăn chặn công nghệ lạc hậu để đảm bảo phát triển xanh và bền vững đất nước cũng được đặt ra;
  2. Nhóm vấn đề về quản lý CGCN, quản lý công nghệ thông qua khuyến khích chuyển giao công nghệ, hạn chế chuyển giao và cấm chuyển giao. Quy định như vậy vẫn đảm bảo “tính  thông thoảng “ như  quy định tại Luật chuyển giao công nghệ  năm 2006  nhưng vẫn kiểm soát được trong tinh hình kinh tế xã hội đất nước hiện nay. Các quy định về hợp đồng CGCN cũng được cụ thể chi tiết hơn, rõ ràng và phù hợp với xu thể hội nhâp quốc tế như việc: Chủ thể ký kết không bị giàng buộc bởi giao dịch tại Việt Nam thì phải có hợp đồng bằng tiếng Việt;
  3. Tập trung giải quyết căn cơ yêu cầu về công tác thẩm định CGCN;
  4. Quy định rõ về các biện pháp khuyến khích thúc đẩy CGCN, tạo điều kiện phát triển thị trường công nghệ một cách đồng bộ, khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ;
  5. Quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với CGCN trong tất cả yêu cầu công việc, từ quản lý công nghệ, quản lý khuyến khích CGCN, cấm, hạn chế chuyển giao đến xem xét một cách thấu đáo trách nhiệm của các bộ, ngành, cơ quan liên quan trong thẩm định công nghệ của dự án đầu tư.

Có thể thấy, Luật số 07/2017/QH14 đã có những quy định chi tiết rõ ràng và phù hợp với xu thể hội nhâp quốc tế  hơn so với các quy định tước đây về chuyển giao công nghệ, qua đó được kỳ vọng  sẽ tạo điều kiện thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, cơ chế hỗ trợ đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ trong kinh doanh sản xuất.

Quy định mới về quản lý nợ công
Trả lời

Ngày 23/11/2017, Quốc hội đã ban hành Luật số 20/2017/QH14 quy định về quản lý nợ công. Luật này có hiệu lực kể tư ngày 01/07/2018.

Theo đó, Luật số 20/2017/QH14 có những nội dung mới đáng chú ý cụ thể như sau:

  1. Nhiệm vụ chủ trì, tổ chức, thực hiện vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài trước đây được giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư nay được giao về Bộ Tài chính. Điều này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tài chính, đúng tinh thần, chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách bộ máy hành chính theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả trên nguyên tắc một tổ chức có thể làm nhiều việc, một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính;
  2. Quy định về chỉ tiêu an toàn nợ công, kế hoạch vay, trả nợ công, chương trình quản lý nợ công và kế hoạch vay, trả nợ hàng năm với những nội dung, trình tự cụ thể việc lập, quyết định và trách nhiệm của các cơ quan liên quan đối với các chỉ tiêu đề ra;
  3. Làm rõ thông tin báo cáo, thời gian báo cáo và trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc cung cấp và công bố thông tin nợ công;
  4. Bổ sung khái niệm mới về “ngưỡng cảnh báo nợ công”. Cụ thể, bên cạnh khái niệm “trần nợ công” đã có trước đây, khái niệm “ngưỡng để cảnh báo nợ công” khi mức nợ công tiến gần đến mức trần và theo đó thực hiện các biện pháp để xử lý, kiểm soát. Mức ngưỡng nợ công do Quốc hội quyết định trong từng thời kỳ;
  5. Điều kiện được bảo lãnh chính phủ được siết chặt đối với từng nhóm đối tượng, bổ sung quy định về quản lý rủi ro bảo lãnh chính phủ. Việc quản lý nợ chính quyền địa phương cũng được quy định chặt chẽ, xác định rõ trách nhiệm, điều kiện vay và trả nợ của chính quyền địa phương.

Ngoài ra, về xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý nợ công, Luật số 20/2017/QH14 cũng quy định  người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải giải trình và chịu trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người đứng đầu cơ quan, tổ chức bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Như vậy, có thể thấy Luật số 20/2017/QH14 về quản lý nợ công đã có những quy định tiến bộ, chi tiết và rõ ràng hơn so với những quy định trước đây, điều này được kỳ vọng sẽ nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức có liên quan cũng như tăng cường sự minh bạch, chặt chẽ của quản lý Nhà nước trong các hoạt động này.

Quy định mới về thiệt hại được bồi thường thuộc trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Trả lời

Ngày 20/06/2017 Quốc hộ đã ban hành Luật số 10/2017/QH14 quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.

Theo đó, Luật số 10/2017/QH14 đã quy định về thiệt hại được bồi thường thuộc Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cụ thể như sau:

Về phương thức quy định các thiệt hại được bồi thường, Luật này quy định về các thiệt hại được bồi thường theo hướng quy định chi tiết, cụ thể các loại thiệt hại cũng như cách thức xác định, căn cứ xác định từng loại thiệt hại được bồi thường mà không quy định theo hướng mang tính khái quát, hay mang tính nguyên tắc chung. Phương thức quy định này là phù hợp với định hướng rút ngắn thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường mà số 10/2017/QH14 quy định vì để có thể rút ngắn thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường, thì các loại thiệt hại cần phải được quy định cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác minh thiệt hại cũng như thương lượng việc bồi thường trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường.

Trong từng nhóm thiệt hại được bồi thường Luật số 10/2017/QH14 quy định thêm nhiều loại thiệt hại cụ thể được bồi thường. Việc bổ sung thêm các loại thiệt hại được bồi thường là bởi, trên thực tiễn đã phát sinh nhiều loại thiệt hại mà thực tế người bị thiệt hại đã phải gánh chịu nhưng không được bồi thường do Luật TNBTCNN 2009 chưa có quy định.

Bên cạnh đó, Luật này cũng quy định tăng mức thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong một số trường hợp như: bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù; sức khỏe bị xâm phạm; bị khởi tố, truy tố, xét xử mà không bị tạm giữ, tạm giam; bị xét xử, thi hành án cải tạo không giam giữ, phạt tù cho hưởng án treo mà không bị tạm giữ, tạm giam. Việc tăng mức bồi thường cho các thiệt hại nêu trên cho phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 và điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, cũng như bảo đảm hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại.

Có thể thấy, Luật số 10/2017/QH14 đã có những quy định mới tiến bộ, rõ ràng và chi tiết hơn so với các quy định trước đây về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, điều này được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao sự minh bạch, công bằng cũng như phát huy tốt trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong các hoạt động quản lý kinh tế – xã hội.

Quy định về quản lý và sử dụng Quỹ Tích lũy trả nợ
Trả lời

Ngày 26/06/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 92/2018/NĐ-CP về Quản lý và sử dụng Quỹ Tích lũy trả nợ. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2018.

Theo đó Nghị định số 92/2018/NĐ-CP quy định về Quản lý và sử dụng Quỹ Tích lũy trả nợ, trong đó nêu rõ  các khoản chi của Quỹ tích lũy – quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước trả nợ , được chi cho các trường hợp cụ thể như sau:

  1. Chi trả nợ nước ngoài, phí đối với khoản vay về cho vay lại, trường hợp ngân sách nhà nước đã ứng nguồn chi trả nợ nước ngoài, Quỹ phải hoàn trả ngân sách nhà nước phần đã ứng;
  2. Ứng vốn để trả nợ nước ngoài đối với các khoản vay về cho vay lại, bảo lãnh Chính phủ theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
  3. Chi xử lý rủi ro theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
  4. Chi nghiệp vụ quản lý nợ công từ nguồn thu phí quản lý cho vay lại, phí bảo lãnh theo nguyên tắc không trùng lắp với dự toán chi thường xuyên được ngân sách nhà nước đảm bảo;
  5. Sau khi cân đối sử dụng cho các khoản chi trên, Quỹ được sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để cho ngân sách nhà nước vay, đầu tư vốn nhàn rỗi, mua trái phiếu Chính phủ.

Có thể thấy, Nghị định số 92/2018/NĐ-CP đã quy định cụ thể về hoạt động quản lý và sử dụng Quỹ tích lũy, đặc biệt việc quản lý chặt chẽ những khoản chi của Quỹ tích lũy, điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo công khai, minh bạch, đảm bảo an toàn, thanh khoản và hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng nguồn vốn của Quỹ.

Sửa đổi, bổ sung một số quy định về hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng nhà nước
Trả lời

Ngày 31/12/2017, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 27/2017/TT-NHNN sửa đổi Thông tư số 03/2013/TT-NHNN quy định về hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2018

Theo đó, Thông tư số 27/2017/TT-NHNN đãcó những sửa đổi, bổ sung mới quan trọng như sau:

  1. Loại bỏ Ngân hàng Phát triển Việt Nam khỏi danh sách các tổ chức tự nguyện tham gia hệ thống thông tin tín dụng: Tổ chức tự nguyện tham gia hệ thống thông tin tín dụng chỉ còn Công ty có chức năng mua bán nợ, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản, công ty thông tin tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo hiểm, chứng khoán.
  2. Bổ sung đối tượng khai thác thông tin tín dụng, cụ thể: Các tổ chức thông tin tín dụng nước ngoài được khai thác các sản phẩm thông tin tín dụng về doanh nghiệp, bao gồm những thông tin được công khai theo quy định của pháp luật trên cơ sở biên bản ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác, hợp đồng dịch vụ ký kết với CIC.
  3. Bổ sung quyền và nghĩa vụ của Trung tâm thông tin tín dụng: Ký kết biên bản ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác hoặc hợp đồng dịch vụ với các tổ chức thông tin tín dụng nước ngoài, phù hợp với quy định pháp luật của mỗi nước, để hợp tác chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi sản phẩm thông tin tín dụng

Có thể thấy, Thông tư số 27/2017/TT-NHNN đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng, qua đó góp phần hoàn thiện những quy định trong hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Bản tin pháp luật số 24/2018
Trả lời