Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Tổ chức tín dụng không được mua trái phiếu cơ cấu nợ của doanh nghiệp
Trả lời

Ngày 18/6/2018, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 15/2018/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 22/2016/TT-NHNN quy định việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua trái phiếu doanh nghiệp do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành.Thông tư này sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02/8/2018.

Theo đó, ngoài các về nguyên tắc mua trái phiếu doanh nghiệp của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài như:

  1. Thực hiện theo Luật các tổ chức tín dụng, Luật chứng khoán, Luật doanh nghiệp và các quy định có liên quan;
  2. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua trái phiếu doanh nghiệp phải có hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, xếp hạng doanh nghiệp phát hành trái phiếu và có quy định nội bộ về mua trái phiếu doanh nghiệp theo quy định;
  3. Áp dụng Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước về góp vốn, mua cổ phần khi mua trái phiếu chuyển đổi;
  4. Sử dụng đồng tiền Việt Nam trong giao dịch mua trái phiếu doanh nghiệp;
  5. Không được vay vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác để mua trái phiếu doanh nghiệp;

Thông tư số 15/2018/TT-NHNN còn quy định các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được mua trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong đó có mục đích để cơ cấu lại các khoản nợ của doanh nghiệp.

Có thể thấy, Thông tư số 15/2018/TT-NHNN đã bổ sung, hoàn thiện quy định về mua trái phiếu doanh nghiệp của tổ chức tính dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, điều này ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao quản lý hoạt động của các tổ chức tín dụng, ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

Tăng cường chống kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng
Trả lời

Ngày 19/06/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 17/CT-TTG  về Tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng thuộc nhóm hàng dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền do thủ tướng chính phủ ban hành. Chỉ thị này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Chỉ thị số 17/CT-TTG quy định một nội dung chính, đáng chú ý như sau:
1.      Bộ Y tế: Tăng cường quản lý, ứng dụng khoa học công nghệ vào kiểm soát đối với nguồn gốc, chất lượng của các nguyên liệu, các sản phẩm chăm sóc nâng cao sức khỏe con người; đề xuất thực hiện thống nhất và xã hội hóa công tác giám định, kiểm định; thực hiện kết nối một cửa quốc gia, chủ động chia sẻ thông tin về cấp phép, quản lý đối với sản phẩm dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền, phối hợp với các cơ quan liên quan phòng chống hiệu quả buôn lậu, sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng quá hạn sử dụng thuộc phạm vi quản lý.
2.      Bộ Công Thương: Tăng cường quản lý giám sát về điều kiện hoạt động thương mại điện tử các mô hình hoạt động kinh doanh dựa trên ứng dụng công nghệ số để kinh doanh; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp các cơ quan chức năng, các chủ thể quyền, xử lý cá nhân, tổ chức sử dụng các trang mạng xã hội kinh doanh dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền giả, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không đảm bảo chất lượng, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
3.      Bộ Khoa học và Công nghệ: Tăng cường công tác kiểm tra nhà nước về đo lường chất lượng và ghi nhãn hàng hóa, phối hợp tích cực với các lực lượng chức năng trong công tác phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền.
Như vậy, Chỉ thị đã có những chỉ đạo chi tiết và kịp thời nhằm tăng cường sự giám sát, quản lý của các cơ quan tổ chức có thẩm quyền trong việc phòng chống gian lận thương mại cũng các hành vi kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng.

Quy định mới đối với hoạt động kinh doanh xuất – nhập khẩu các loại khí
Trả lời

Ngày 15/06/2018 Thủ tướng Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 87/2018/NĐ-CP quy định về hoạt động kinh doanh khí và điều kiện kinh doanh khí tại thị trường Việt Nam. Nghị định này sẽ có hiệu lực từ ngày 01/08/2018.

Theo đó Nghị định số 87/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về điều kiện đối với thương nhân xuất nhập khẩu khí cũng như điều kiện sản xuất, chế biến khí, cụ thể như sau:

  1. Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật;
  2. Cơ sở sản xuất, chế biến khí được cấp có thẩm quyền phê duyệt cho phép đầu tư xây dựng;
  3. Dây chuyền, máy, thiết bị đã được kiểm định theo quy định;
  4. Có phòng thử nghiệm chất lượng khí hoặc có hợp đồng thuê tối thiểu 01 năm của thương nhân, tổ chức có phòng thử nghiệm đủ năng lực thử nghiệm các chỉ tiêu theo quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;
  5. Đáp ứng các điều kiện về phòng cháy và chữa cháy theo quy định của pháp luật.

Có thể thấy, Nghị định số 87/2018/NĐ-CP đã quy định chi tiết về các hoạt động sản xuất, kinh doanh, buôn bán khí cũng như việc xuất nhập khẩu các loại khí ra nước ngoài, thông qua đó, các quy định này được kỳ vọng sẽ tăng cường sự chặt chẽ và hiệu của của hệ thống quản lý của nhà nước trong các hoạt động này.

Quy định mới việc áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu đối với hàng hóa quản lý theo hạn ngạch thuế quan nhập khẩu
Trả lời

Ngày 15/ 06/ 2018, Bộ Công thương ban hành Thông tư số 12/2018/TT-BCT quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương và nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó, Thông tư 12/2018/TT-BCT quy định việc áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu đối với hàng hóa quản lý theo hạn ngạch thuế quan nhập khẩu như sau:

  1. Thương nhân được Bộ Công thương cấp Giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan hoặc được Bộ Công thương thông báo bằng văn bản quyền sử dụng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu thì được hưởng thuế suất thuế nhập khẩu trong hạn ngạch thuế quan đối với số lượng hàng hóa nhập khẩu ghi trong Giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan hoặc ghi trong thông báo quyền sử dụng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu;
  2. Đối với số lượng hàng hóa nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan thì được áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan;
  3. Các trường hợp pháp dụng phương thức điều hành hạn ngạch thuế quan nhập khẩu khác với phương thức quản lý thì được thực hiện theo quy định, hướng dẫn của Bộ Công thương;
  4. Thuế suât thuế nhập khẩu trong hạn ngạch thuế quan và thuế suất thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan thực hiện theo quy định của Chính phủ;

Bên cạnh đó, Nghị định này còn quy định các đối tượng được xem xét cấp Giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan, cụ thể là:

  1. Đối với mặt hàng thuốc lá nguyên liệu: Thương nhân có giấy phép sản xuất thuốc lá điếu do Bộ Công thương cấp và có nhu cầu sử dụng thuốc lá nguyên liệu nhập khẩu cho sản xuất thuốc lá điếu;
  2. Đối với mặt hàng muối: Thương nhân có nhu cầu sử dụng muối cho sản xuất được cơ quan quản lý chuyên ngành xác nhận;
  3. Đối với mặt hàng trứng gia cầm: Thương nhân có nhu cầu nhập khẩu trứng gia cầm;
  4. Đối với mặt hàng đường tinh luyện, đường thô: Thực hiện theo hướng dẫn hàng năm của Bộ Công thương trên cơ sở trao đổi ý kiến với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính;

Ngoài ra, đối với các mặt hàng muối, trứng gia cầm, đường tinh luyện, đường thô Bộ Công thương trao đổi với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính để xác định điểm phân giao hạn ngạch thuế.

Như vậy, Thông tư 12/2018/TT-BCT đã có quy định khá chi tiết về việc áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu với các hàng hóa quản lý theo hạn ngạch thuế, đồng tời cũng nêu rõ các hàng hóa được xem xét cấp Giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan, qua đó, tạo cơ sở để áp dụng pháp luật Thuế cụ thể đối với từng mặt hàng, hạn chế sự gian lận, trốn thuế trong hoat động của các doanh nghiệp.

Lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ tăng thêm 6,92%
Trả lời

Ngày 15/06/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2018/NĐ-CP quy định về điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng. Nghị định này sẽ có hiệu lực từ ngày 01/07/2018.

Theo đó, Nghị định số 88/2018/NĐ-CP quy định điều chỉnh tăng thêm 6,92% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của tháng 06/2018 đối với các đối tượng sau:

  1. Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg ngày 16/03/2009 của Thủ tướng Chính phủ); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hằng tháng;
  2. Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của Chính phủ đang hưởng lương hưu và trợ cấp hằng tháng;
  3. Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 04/08/2000, Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 06/05/2010 của Thủ tướng Chính phủ; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hằng tháng;
  4. Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 130/CP ngày 20/06/1975 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng;
  5. Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008, Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 06/05/2010 của Thủ tướng Chính phủ;
  6. Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20/08/2010 của Thủ tướng Chính phủ;
  7. Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ;
  8. Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng.

Có thể thấy, Nghị định số 88/2018/NĐ-CP đã có những điều chỉnh tích cực, qua đó thể hiện sự quan tâm, hỗ trợ kịp thời của Nhà nước đối với đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động phù hợp với sự thay đổi, phát triển của đất nước và đời sống xã hội.

Quy định về việc bán tài sản khi phá sản theo Quyết định của Tòa án
Trả lời

Ngày 12/6/2018, Bộ Tư pháp, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC quy định việc phối hợp trong thi hành quyết định của Tòa án giải quyết phá sản. Thông tư này sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/08/2018.

Theo đó, Thông tư liên tịch số 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC quy định về việc bán tài sản khi phá sản theo Quyết định của Tòa án như sau:

  1. Việc bán tài sản trong trường hợp Chấp hành viên thực hiện cưỡng chế thu hồi nợ cho doanh nghiệp, hợp tác xã được thực hiện theo quy định tại Điều 101 Luật Thi hành án dân sự, Điều 27 Nghị định 62/2015/NĐ-CP;
  2. Bán tài sản trong trường hợp Quản trị viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản khi thực hiện thanh lý tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản theo quy định tại Điều 124 Luật Phá sản.

Bên cạnh đó, Thông tư này cũng quy định, trong trường hợp quyết định của Tòa án giải quyết phá sản có điểm chưa rõ, khó thi hành, không xác định được nội dung cụ thể thì cơ quan Thi hành án dân sự đề nghị Tòa án đã ra quyết định giải quyết phá sản xem xét, giải thích theo quy định tại Khoản 2 Điều 179 Luật Thi hành án dân sự.

Có thể thấy, Thông tư liên tịch số 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện cho Cơ quan Thi hành án dân sự và Tòa án dễ dàng hơn trong việc giải quyết tài sản theo quyết định giải quyết phá sản của tòa án, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp sớm giải quyết được vấn đề tài sản sau khi hoàn thành các thủ tục phá sản

Tổ chức triển khai thực hiện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trả lời

Ngày 15/06/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 15/CT-TTg về tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chỉ thị này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan sửa đổi, bổ sung Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, trình Chính phủ trong tháng 12/2018. Đồng thời, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đẩy mạnh việc triển khai các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Cùng với đó, Thủ tướng giao các bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương triển khai các đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa như xây dựng Cổng thông tin quốc gia hỗ trợ các doanh nghiệp này để cung cấp, công bố thông tin hỗ trợ trên phạm vi toàn quốc; bố trí nguồn kinh phí thường xuyên thực hiện các nội dung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng các Đề án hỗ trợ theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước; đẩy mạnh việc hỗ trợ nâng cao năng lực công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan căn cứ vào điều kiện quỹ đất thực tế tại địa phương, chủ trì trình HĐND cấp tỉnh quyết định bố trí quỹ đất để hình thành, phát triển các cụm công nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang bộ tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và thực hiện các văn bản pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc lĩnh vực được phân công quản lý.

Có thể thấy, bằng những chỉ đạo kịp thời và rõ ràng, Chỉ thị số 15/CT-TTg được kỳ vọng sẽ góp phần tích cực trong việc triển khai thực hiện hiệu quả Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp này.

Việt Nam nỗ lực gấp đôi cải thiện môi trường kinh doanh
Trả lời

Theo công bố của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MoPI), môi trường kinh doanh và khả năng cạnh tranh của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể trong ba năm qua nhờ vào một loạt các giải pháp.

Nỗ lực của Việt Nam đã được phản ánh qua kết quả xếp hạng doanh nghiệp do Ngân hàng thế giới tiến hành trong năm 2016, theo đó Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 82 từ vị trí thứ 91 năm ngoái. Đây là lần đầu tiên nước ta có bước tiến lớn trong bảng xếp hạng kể từ năm 2008.

Việt Nam cũng đạt vị trí thứ 47 trên tổng số 127 nền kinh tế được khảo sát trong báo cáo chỉ số sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2017, xếp hạng cao nhất từ trước đến nay, tăng 12 bậc so với báo cáo năm ngoái, theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO).

Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) năm 2017-2018 phát hành vào tháng 9 cũng xếp Việt Nam ở vị trí thứ 55, tăng 5 bậc so với năm 2016.

Tuy nhiên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, chất lượng các quy định về điều kiện kinh doanh vẫn ở mức thấp, phản ánh Việt Nam đang thiếu một hệ thống quản lý dựa trên đánh giá rủi ro.

Bên cạnh đó, hệ thống giám sát các quy định về điều kiện kinh doanh chưa thực sự hiệu quả, dẫn tới các thủ tục hành chính còn rườm rà, số lượng giấy phép và điều kiện kinh doanh còn mang tính rào cản.

Do đó, Bộ đã đề xuất bãi bỏ khoảng 3.000 điều kiện kinh doanh không hợp lý, không hiệu quả và thực hiện cải cách quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở nguyên tắc và thực tiễn do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đề ra.

Bộ đã đề xuất Thủ tướng yêu cầu các Bộ trưởng và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố và cấp tỉnh giám sát chặt chẽ việc thực hiện Nghị quyết số 19 về nhiệm vụ và giải pháp để cải thiện môi trường kinh doanh và khả năng cạnh tranh quốc gia.

Các Bộ cần sớm xem xét và đề xuất giảm điều kiện đầu tư và kinh doanh trong khu vực quản lý nhà nước và báo cáo với Thủ tướng trước tháng 12/2017.

Đồng thời, MoPI sẽ hợp tác với Văn phòng Chính phủ và các Bộ có liên quan để tổ chức nhiều cuộc đối thoại hơn với các doanh nghiệp nhằm kịp thời làm rõ mối quan tâm và kiến nghị của họ.

Nguồn: VNA

Việt Nam cần cân nhắc về vị trí của các Đặc khu kinh tế được đề xuất
Trả lời

Thật khó để xác định logic của việc lựa chọn vị trí các Đặc khu kinh tế, khi tất cả các địa điểm này đều cách xa các thành phố lớn.

Việt Nam đang đề xuất thành lập ba Đặc khu kinh tế (SEZ), bao gồm Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang. Nhưng tôi không thể thấy bất kỳ mục tiêu rõ ràng hay tầm nhìn nào đằng sau những lựa chọn này.

Khi chúng ta nói về các nền kinh tế cạnh tranh, chúng ta nghĩ đến cuộc chạy đua giữa các siêu đô thị để thu hút đầu tư nước ngoài và các tổ chức đa quốc gia. Hãy thử nhìn vào Bắc Kinh, Thượng Hải, Tokyo hay Seoul. Xương sống của sự phát triển nằm ngay trong nội dung đô thị hóa đi đôi với công nghiệp hóa. Chỉ những thành phố lớn mới tạo nên một đất nước cạnh tranh.

Rõ ràng điều này không đúng với Việt Nam. Chính phủ dường như nghĩ rằng các thành phố của chúng ta đang quá đông dân và cần phải “giảm bớt”, vì vậy, sự đầu tư nên được dành cho khu vực nông thôn. Cách tiếp cận như vậy đang đi ngược lại xu hướng phát triển.

Trong mắt tôi, Vân Đồn hiện đang là sự lựa chọn tốt nhất trong các lựa chọn. Phú Quốc có thể là một SEZ để thúc đẩy du lịch. Tuy nhiên, đối với Bắc Vân Phong, tôi chưa thấy bất kỳ tiềm năng nào đến từ nơi này.

Với các khoản đầu tư vào, ba khu vực này có thể mang lại một chút giá trị. Tuy nhiên, sẽ rất khó khăn để có những kết quả mang tính đột phá, đóng vai trò then chốt thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam.

Nguyên tắc tương tự cũng áp dụng cho tất cả các quốc gia khác. Cần phải có những mục tiêu và tầm nhìn rõ ràng khi thiết lập các SEZ. Những mục tiêu đó có thể là thúc đẩy tăng trưởng bằng cách thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển cơ sở hạ tầng; hỗ trợ chiến lược kinh tế vĩ mô; có thể là nơi để thử nghiệm các khuôn khổ và chính sách mới và một phương tiện để giảm áp lực lên tăng dân số và thất nghiệp.

Cụ thể hơn, một SEZ cần phải được đặt gần các thị trường lớn. Ví dụ, Thâm Quyến ở tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc là một nơi tốt để thiết lập SEZ, vì vị trí của thành phố làm cho nó trở thành cửa ngõ giữa Hồng Kông và thị trường khổng lồ của Trung Quốc đại lục. Hay Khu công nghiệp Iskandar ở Johor, Malaysia đặc biệt phát triển tốt nhờ sự gần gũi với Singapore và các tuyến thương mại hàng hải quốc tế.

Đối với Việt Nam, nếu chúng ta muốn thu hút các tập đoàn đa quốc gia đến các khu công nghiệp, lựa chọn hàng đầu của tôi sẽ là Khu công nghệ cao Hòa Lạc tại Hà Nội và Khu đô thị mới Thủ Thiêm tại TP.HCM. Hai địa điểm này đáp ứng tất cả các yếu tố cần thiết để thu hút nhà đầu tư, chẳng hạn như gần với nguồn nhân lực lao động có tay nghề cao, đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường quốc tế và đã được đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.

Ví dụ, nếu ai đó đầu tư vào Vân Đồn, họ cần hàng ngàn kỹ sư và những công nhân có tay nghề cao khác. Liệu khu vực này có thể đáp ứng nhu cầu đó đủ nhanh không? Sẽ rất khó khăn. Nhưng sẽ dễ dàng nếu đặc khu nằm gần Hà Nội, nơi có rất nhiều công nhân tài năng. Tốt nhất là hãy để Hà Nội và TP.HCM đóng vai trò là động lực thúc đẩy nền kinh tế của Việt Nam.

Một SEZ tốt, theo ý kiến của tôi, nên cung cấp cho các nhà đầu tư sự tự do tối đa để thử nghiệm các khuôn khổ pháp lý khác nhau, không chỉ đơn giản là cung cấp các ưu đãi thuế, đất đai và tài chính. Ví dụ, SEZ ở quận Phố Đông, Thượng Hải là một thành công lớn do các quy định lỏng lẻo. Thay vì yêu cầu các doanh nghiệp đăng ký, họ chỉ phải thông báo về việc mở cửa; thay vì liệt kê các hoạt động kinh doanh hợp pháp, chỉ những hoạt động bất hợp pháp được Nhà nước liệt kê mới bị cấm.

Như vậy, các Đặc khu kinh tế của Việt Nam phải là một phần của chiến lược phát triển toàn diện, điều mà tôi không thể tìm thấy trong dự thảo luật của chính phủ. Đồng thời, người lãnh đạo trong mỗi SEZ cần được tự chủ hơn trong việc ra quyết định để không bỏ lỡ các nhà đầu tư lớn do phải chờ đợi phê duyệt từ các cơ quan cấp cao hơn.

Về chi phí xây dựng ba Đặc khu kinh tế, 44 tỷ đô la, ngân sách nhà nước sẽ chỉ có khả năng hỗ trợ một phần, phần còn lại buộc phải đến từ các nguồn khác. Trong giai đoạn đầu, tôi tin rằng ngân sách nhà nước sẽ cần phải trả cho phát triển cơ sở hạ tầng nhưng một khoản đầu tư lớn như vậy cần phải được phân tích chi phí – lợi ích cẩn thận. Nếu chúng ta đổ hàng triệu đô la vào đó mà không tính toán lợi tức đầu tư, tham nhũng sẽ là điều không thể tránh khỏi.

* Tiến sĩ Huỳnh Thế Du là giảng viên tại Đại học Fulbright Việt Nam, TP.HCM.

Nguồn: e.vnexpress.net

Bản tin pháp luật số 23/2018
Trả lời