Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Bản tin pháp luật số 22/2018
Trả lời

Bản tin pháp luật số 21/2018
Trả lời

Kế hoạch triển khai hệ thống quản lý hải quan tự động tại cảng, kho, bãi
Trả lời

Ngày 30/05/2018, Tổng cục Hải quan đã ban hành Kế hoạch số 3009/KH-TCHQ về triển khai hệ thống quản lý hải quan tự động tại cảng, kho, bãi. Kế hoạch này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó, Kế hoạch số 3009/KH-TCHQ đưa ra nguyên tắc và lộ trình triển khai hệ thống như sau:

  1. Ưu tiên triển khai trước tại những doanh nghiệp, đơn vị hải quan:

–           Có tần suất giao dịch, lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu lớn;

–           Mức độ sẵn sàng cao về hệ thống công nghệ thông tin;

–           Triển khai đồng bộ từ cảng đến các kho, bãi đảm bảo sự gắn kết giữa các khâu nghiệp vụ trong việc giám sát vận chuyển hàng hóa.

  1. Lộ trình triển khai

–           Rà soát, đánh giá hiện trạng và xác định các doanh nghiệp triển khai: Hoàn thành trong tháng 6/2018;

–           Xây dựng kế hoạch triển khai: Hoàn thành trong tháng 7/2018;

–           Các nội dung khác như cử cán bộ tham gia đào tạo, tổ chức hội thảo, giới thiệu, hướng dẫn và hỗ trợ các Chi cục, các doanh nghiệp tìm hiểu quy trình trao đổi thông tin: Được tiến hành song song trong suốt quá trình triển khai thực hiện.

Thông qua việc đưa ra một lộ trình cụ thể với các biện pháp quyết liệt, Tổng cục Hải quan đã thể hiện quyết tâm của ngành trong việc triển khai hệ thống quản lý hải quan tự động tại cảng, kho, bãi nhằm nâng cao tốc độ thực hiện các công tác quản lý nhà nước.

Ưu đãi đầu tư đối với khu công nghiệp, khu kinh tế
Trả lời

Ngày 22/05/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82/2018/NĐ-CP quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 10/07/2018.

Theo đó, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP quy định về ưu đãi đầu tư đối với khu công nghiệp, khu kinh tế cụ thể như sau:

  1. Khu kinh tế, khu công nghiệp là địa bàn ưu đãi đầu tư, được hưởng chính sách ưu đãi áp dụng đối với địa bàn thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn theo pháp luật về đầu tư.
  2. Chi phí đầu tư xây dựng, vận hành hoặc thuê nhà chung cư và các công trình kết cấu hạ tầng xã hội phục vụ cho công nhân làm việc tại khu công nghiệp, khu kinh tế là chi phí hợp lý được khấu trừ để tính thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp có dự án đầu tư trong khu công nghiệp, khu kinh tế.
  3. Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, công trình văn hóa, thể thao, công trình kết cấu hạ tầng xã hội phục vụ công nhân làm việc tại khu công nghiệp, khu kinh tế được hưởng ưu đãi theo quy định pháp luật về xây dựng nhà ở xã hội và pháp luật có liên quan.
  4. Nhà đầu tư, doanh nghiệp có dự án đầu tư vào khu công nghiệp, khu kinh tế được cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ thực hiện các thủ tục hành chính về đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, xây dựng, môi trường, lao động, thương mại theo cơ chế “một cửa, tại chỗ”, hỗ trợ về tuyển dụng lao động và các vấn đề liên quan khác trong triển khai thực hiện dự án.

Bằng những quy định cụ thể và chi tiết, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy việc phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế, qua đó khuyến khích và thu hút đầu tư vào các khu vực này.

Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2019 – 2021
Trả lời

Ngày 26/05/2018, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 528/2018/UBTVQH14 về chi phí quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2019 – 2021. Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2019.

Theo đó, Nghị quyết số 528/2018/UBTVQH14 quy định mức chi phí trong hoạt động quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2019 – 2021 như sau:

  1. Mức chi phí quản lý bảo hiểm xã hội năm 2019 bằng 2,15%, năm 2020 bằng 2,0% và năm 2021 bằng 1,85% dự toán thu, chi bảo hiểm xã hội (trừ số chi đóng bảo hiểm y tế cho người hưởng bảo hiểm xã hội) được trích từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội;
  2. Mức chi phí quản lý bảo hiểm thất nghiệp năm 2019 bằng 2,15%, năm 2020 bằng 2,0% và năm 2021 bằng 1,85% dự toán thu, chi bảo hiểm thất nghiệp (trừ số chi đóng bảo hiểm y tế cho người hưởng bảo hiểm thất nghiệp) được trích từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp;
  3. Trường hợp thực hiện thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp trong năm không đạt dự toán, thì mức chi phí quản lý nêu trên tính trên số thực thu, thực chi;
  4. Mức chi tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc trong các đơn vị trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam, người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong tổ chức Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng, Bảo hiểm xã hội Bộ Công an, người lao động thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp của ngành lao động – thương binh và xã hội bằng 1,8 lần so với chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức do Nhà nước quy định.

Như vậy, Nghị quyết số 528/2018/UBTVQH14 đã đưa ra mức chi phí quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cụ thể gắn với từng giai đoạn, điều này có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước, qua đó góp phần sử dụng ngân sách tiết kiệm và hiệu quả.

Cải cách chính sách BHXH
Trả lời

Ngày 23/05/2018, Ban chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó, Nghị quyết số 28-NQ/TW đưa ra những cải cách quan trọng như sau:

  1. Mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đối với nhóm chủ hộ kinh doanh, người quản lý doanh nghiệp, người quản lý, điều hành hợp tác xã không hưởng tiền lương, người lao động làm việc theo chế độ linh hoạt;
  2. Sửa đổi quy định về điều kiện thời gian tham gia BHXH tối thiểu để hưởng chế độ hưu trí theo hướng giảm dần số năm đóng BHXH tối thiểu từ 20 năm xuống 15 năm, hướng tới còn 10 năm với mức hưởng được tính toán phù hợp nhằm tạo điều kiện cho người lao động cao tuổi có số năm tham gia BHXH thấp được thụ hưởng quyền lợi.
  3. Rà soát, sửa đổi, hoàn thiện cách tính lương hưu, bảo đảm công bằng giữa nam và nữ, giữa khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước.
  4. Kết hợp hài hoà các nguyên tắc đóng – hưởng và chia sẻ giữa người có mức lương cao với người có mức lương thấp để thu hẹp khoảng cách về thu nhập trong các đối tượng hưởng chế độ hưu trí.

Như vậy, Nghị quyết số 28-NQ/TW đã đưa ra những biện pháp cải cách quan trọng đối với chính sách bảo hiểm xã hội, qua đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của chính sách bảo hiểm xã hội tại Việt Nam.

Quy định về mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa dịch vụ được khuyến mại
Trả lời

          Ngày 22/05/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2018/NĐ-CP quy định về một số hoạt động xúc tiến thương mại, bao gồm khuyến mại và hội chợ, triển lãm thương mại. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 15/07/2018.

Theo đó, Nghị định số 81/2018/NĐ-CP quy định mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại như sau:

  1. Mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá hàng hóa, dịch vụ đó ngay trước thời gian khuyến mại.
  2. Trong trường hợp tổ chức các chương trình khuyến mại tập trung (giờ, ngày, tuần, tháng, mùa khuyến mại) thì mức giảm giá tối đa được áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ khuyến mại là 100%. Mức giảm giá tối đa 100% cũng áp dụng đối với các hoạt động khuyến mại trong khuôn khổ các chương trình, hoạt động xúc tiến thương mại do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Thông qua các quy định cụ thể, Nghị định số 81/2018/NĐ-CP hướng tới giảm thiểu tối đa các chương trình giảm giá khuyến mại, cạnh tranh không lành mạnh đã tạo nên ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế thị trường trong thời gian vừa qua.

Quy định mới về đào tạo kiến thức pháp luật kinh doanh theo phương thức đa cấp
Trả lời

Ngày 24/05/2018, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 10/2018/TT-BCT quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 40/2018/NĐ-CP ngày 12/03/2018 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15/07/2018.

Theo đó, Thông tư số 10/2018/TT-BCT quy định chi tiết khung chương trình đào tạo kiến thức pháp luật về bán hàng đa cấp và quy trình tổ chức kiểm tra kiến thức pháp luật bán hàng đa cấp cụ thể như sau:

  1. Khung chương trình đào tạo kiến thức pháp luật về bán hàng đa cấp phải đảm bảo các nội dung:

–           Thời lượng đào tạo: tối thiểu 08 tiếng;

–           Nội dung chương trình: Tổng quan về bán hàng đa cấp; pháp luật về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp; quy tắc đạo đức nghề nghiệp bán hàng đa cấp; pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; pháp luật về quảng cáo.

  1. Quy trình tổ chức kiểm tra kiến thức pháp luật bán hàng đa cấp

–           Kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ đăng ký kiểm tra, xác nhận kiến thức pháp luật bán hàng đa cấp theo quy định;

–           Lên kế hoạch về thời gian, địa điểm, phương thức kiểm tra;

–           Thông báo kế hoạch kiểm tra;

–           Tổ chức kiểm tra;

–           Đánh giá kết quả kiểm tra;

–           Thông báo kết quả kiểm tra.

Như vậy, có thể thấy, Thông tư số 10/2018/TT-BCT đã cụ thể hóa nội dung về tuyên truyền nâng cao kiến thức pháp luật kinh doanh đa cấp được Nhà nước đề ra trong Nghị định số 40/2018/NĐ-CP, qua đó đảm bảo các cá nhân, tổ chức sau khi tham gia các lớp đào tạo có đầy đủ kiến thức pháp lý cơ bản để thực hiện các hoạt động kinh doanh đa cấp đúng pháp luật.

Quy định về kiểm kê, phân loại tài sản trước khi doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa
Trả lời

Ngày 04/05/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 41/2018/TT-BTC hướng dẫn một số nội dung về xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi chuyển doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 18/06/2018.

Theo đó, Thông tư số 41/2018/TT-BTC quy định về kiểm kê, phân loại tài sản trước khi doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa như sau:

  1. Tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp, doanh nghiệp phải lập bảng kê xác định đúng số lượng, hiện trạng thực tế, chất lượng và giá trị của tài sản hiện có do doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng; kiểm quỹ tiền mặt, đối chiếu số dư tiền gửi ngân hàng; xác định tài sản, tiền mặt thừa, thiếu so với sổ kế toán, phân tích rõ nguyên nhân thừa, thiếu và trách nhiệm của những người có liên quan, xác định mức bồi thường theo quy định của pháp luật.
  2. Tài sản đã kiểm kê được phân loại theo các nhóm sau:

–           Tài sản dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

–           Tài sản không cần dùng, tài sản ứ đọng, chậm luân chuyển, tài sản chờ thanh lý.

–           Tài sản hình thành từ nguồn quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi (nếu có).

–           Tài sản thuê, mượn, vật tư hàng hóa nhận giữ hộ, nhận gia công, nhận đại lý, nhận ký gửi, tài sản nhận góp vốn liên doanh, liên kết và các tài sản khác không phải của doanh nghiệp.

–           Tài sản gắn liền với đất thuộc diện phải xử lý theo phương án sắp xếp lại, xử lý đối với các cơ sở nhà, đất theo quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền phù hợp với pháp luật về sắp xếp lại, xử lý nhà đất thuộc sở hữu nhà nước.

–           Tài sản của các đơn vị sự nghiệp có thu (các cơ sở nhà đất của các đơn vị sự nghiệp có thu theo pháp luật về sắp xếp lại, xử lý nhà đất thuộc sở hữu nhà nước), tài sản hoạt động sự nghiệp.

–           Tài sản chờ quyết định xử lý của các cơ quan có thẩm quyền.

–           Các khoản đầu tư tài chính (góp vốn liên doanh, góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, các hoạt động góp vốn khác) bằng giá trị quyền sử dụng đất.

–           Tài sản khác (nếu có).

Bằng những quy định chi tiết và cụ thể, Thông tư số 41/2018/TT-BTC được kỳ vọng sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho quá trình xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước trước khi tiến hành cổ phần hóa, qua đó đảm bảo tính minh bạch của hoạt động này, tránh gây thất thoát tài sản Nhà nước.

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng cho các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Trả lời

Ngày 29/05/2018, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số 1158/QĐ-NHNN về tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Quyết định này có hiệu lực kể từ kỳ duy trì dự trữ bắt buộc tháng 6 năm 2018.

Theo đó, Quyết định số 1158/QĐ-NHNN quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng cho các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài như sau:

  1. Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các loại tiền gửi bằng đồng Việt Nam và tiền gửi bằng ngoại tệ là 0%.
  2. Ngân hàng chính sách: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định của Chính phủ.
  3. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Ngân hàng Hợp tác xã áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tương ứng với từng loại tiền gửi như sau:

–           Tiền gửi bằng đồng Việt Nam không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 3% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;

–           Tiền gửi bằng đồng Việt Nam kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;

–           Tiền gửi bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng ở nước ngoài là 1 % trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;

–           Tiền gửi bằng ngoại tệ phải tính dự trữ bắt buộc khác không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 7% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;

–           Tiền gửi bằng ngoại tệ phải tính dự trữ bắt buộc khác kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 5% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc.

  1. Tổ chức tín dụng khác áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tương ứng với từng loại tiền gửi như sau:

–           Tiền gửi bằng đồng Việt Nam không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 3% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;

–           Tiền gửi bằng đồng Việt Nam kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;

–           Tiền gửi bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng ở nước ngoài là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;

–           Tiền gửi bằng ngoại tệ phải tính dự trữ bắt buộc khác không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 8% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;

–           Tiền gửi bằng ngoại tệ phải tính dự trữ bắt buộc khác kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 6% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc.

Như vậy, so với các văn bản trước đây, Quyết định số 1158/QĐ-NHNN đã điều chỉnh theo hướng tăng mức dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng nhằm đảm bảo an toàn tín dụng, quản trị rủi ro tốt hơn trên thị trường tài chính.