Ngày 29/05/2018, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 14/2018/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện các biện pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ để hỗ trợ các tổ chức tín dụng cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 13/07/2018.
Theo đó, Thông tư số 14/2018/TT-NHNN quy định các biện pháp hỗ trợ tổ chức tín dụng cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn như sau:
– Áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc hỗ trợ đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam thấp hơn so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với từng loại hình tổ chức tín dụng.
– Đối với tổ chức tín dụng có tỷ trọng tín dụng nông nghiệp, nông thôn bình quân đạt mức từ 40% trở lên nhưng không có nhu cầu áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc hỗ trợ thì không áp dụng các quy định về dự trữ bắt buộc.
Bằng các quy định rõ ràng và cụ thể, Thông tư số 14/2018/TT-NHNN đã xây dựng những điều kiện thuận lợi để các tổ chức tín dụng thực hiện tốt chính sách của Đảng và Nhà nước, qua đó hỗ trợ sự phát triển của ngành nông nghiệp, đảm bảo cuộc sống cho người nông dân.
Ngày 18/05/2018, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 13/2018/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2019.
Theo đó, Thông tư số 13/2018/TT-NHNN quy định tiêu chuẩn đối với kiểm toán viên nội bộ làm việc tại ngân hàng như sau:
– Có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật, kế toán, kiểm toán; có bằng đại học trở lên về ngành công nghệ thông tin hoặc chuyên ngành phù hợp đối với kiểm toán viên công nghệ;
– Có kinh nghiệm làm việc trực tiếp trong ngành ngân hàng, tài chính, kế toán, kiểm toán tối thiểu là 02 năm đối với kiểm toán viên nội bộ và 03 năm đối với Trưởng kiểm toán nội bộ; có kinh nghiệm làm việc trong ngành công nghệ thông tin tối thiểu là 02 năm đối với kiểm toán viên công nghệ.
Như vậy, có thể thấy, Thông tư số 13/2018/TT-NHNN có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng kiểm toán nội bộ, quản lý rủi ro tại các định chế tài chính, qua đó góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động đảm bảo an toàn tín dụng và giảm thiểu rủi ro cho các cá nhân, tổ chức khi sử dụng dịch vụ ngân hàng.
Ngày 28/05/2018, Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Công văn số 5559/BGTVT-QLDN về báo cáo tình hình công bố và công khai thông tin trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Công văn này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Công văn số 5559/BGTVT-QLDN đề ra các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực giao thông như sau:
Thông qua các nội dung trong Công văn số 5559/BGTVT-QLDN, Bộ Giao thông vận tải đã thể hiện sự quan tâm tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này được tiếp cận với nhiều nguồn thông tin trong lĩnh vực giao thông vận tải để nhanh chóng nắm bắt các cơ hội phát triển, mở rộng kinh doanh.
Ngày 16/05/2018, Tổng cục Hải quan đã ban hành Công văn số 2687/TCHQ-TXNK quy định về việc thực hiện chính sách thuế tại Cục Hải quan. Công văn này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Công văn số 2687/TCHQ-TXNK quy định một số nội dung chính như sau:
Như vậy, có thể thấy Công văn số 2687/TCHQ-TXNK đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể nhằm khắc phục các vướng mắc khó khăn còn tồn tại, nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách thuế và công tác quản lý thuế.
Ngày 23/05/2018, Bộ Công thương đã ban hành Công văn số 4057/BCT-TTTN quy định về việc điều hành kinh doanh xăng dầu. Công văn số này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Công văn số 4057/BCT-TTTN quy định:
– Xăng E5 RON 92: 21.365 đồng/lít;
– Xăng RON 95 III: 22.342 đồng/lít;
– Dầu điêzen 0.05S: 17.994 đồng/lít;
– Dầu hỏa: 16.640 đồng/lít;
– Dầu Madút 180CST 3.5S: 14.637 đồng/kg.
– Xăng E5 RON 92: 1.425 đồng/lít;
– Xăng RON 95 III: 831 đồng/lít;
– Dầu điêzen 0.05S: 300 đồng/lít;
– Dầu hỏa: 200 đồng/lít;
– Dầu Madút 180CST 3.5S: 200 đồng/kg.
– Xăng E5 RON 92: không cao hơn 19.940 đồng/lít;
– Xăng RON 95 III: 21.511 đồng/lít;
– Dầu điêzen 0.05S: không cao hơn 17.694 đồng/lít;
– Dầu hỏa: không cao hơn 16.440 đồng/lít;
– Dầu Madút 180CST 3.5S: không cao hơn 14.437 đồng/kg.
Thông qua các quy định về mức giá xăng dầu tại Công văn số 4057/BCT-TTTN, có thể thấy, Bộ Công Thương đã có những điều chỉnh linh hoạt và phù hợp với diễn biến giá xăng dầu thành phẩm trên thị trường thế giới trong thời gian gần đây.
Ngày 18/05/2018, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 1588/QĐ-BTNMT công bố phương án cắt giảm danh mục hàng hóa, sản phẩm và đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến kiểm tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố phương án các hàng hóa, sản phẩm cắt giảm và các thủ tục bãi bỏ như sau:
Quyết định số 1588/QĐ-BTNMT được kỳ vọng sẽ góp phần giảm thiểu những thủ tục rườm rà, tăng cường cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường phát triển, từ đó đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
Ngày 23/04/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2018/NĐ-CP quy định về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 21/06/2018.
Theo đó, Nghị định số 61/2018/NĐ-CP quy định về nguyên tắc ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính như sau:
Có thể thấy, Nghị định số 61/2018/NĐ-CP đã quy định cụ thể về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, qua đó đẩy nhanh tốc độ xử lý các thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước, góp phần vào công cuộc xây dựng Chính phủ điện tử.
Ngày 20/04/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 05/06/2018.
Theo đó, Nghị định số 59/2018/NĐ-CP quy định về đối tượng phải làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan như sau:
– Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt, công cụ chuyển nhượng, vàng, kim loại quý, đá quý, sản phẩm văn hóa, di vật, cổ vật, bảo vật, bưu phẩm, bưu kiện xuất khẩu, nhập khẩu; hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh; các vật phẩm khác xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, trong địa bàn hoạt động của cơ quan hải quan;
– Phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển, đường thủy nội địa, đường sông xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
– Đối tượng phải làm thủ tục hải quan;
– Vật dụng trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
– Hồ sơ hải quan và các chứng từ liên quan đến đối tượng phải làm thủ tục hải quan;
– Đối tượng phải làm thủ tục hải quan;
– Vật dụng trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
– Hàng hóa, phương tiện vận tải trong địa bàn hoạt động hải quan; hàng hóa là máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu đang lưu giữ tại các cơ sở sản xuất của tổ chức, cá nhân;
– Hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành được đưa về bảo quản chờ thông quan;
– Hàng hóa vận chuyển chịu sự giám sát hải quan.
Có thể thấy, Nghị định số 59/2018/NĐ-CP đã quy định chi tiết các nhóm đối tượng phải làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan, qua đó hỗ trợ các cơ quan chức năng trong việc xác định rõ các đối tượng thuộc phạm vi kiểm tra, giám sát.
Ngày 22/05/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 12/CT-TTg về tăng cường công tác triển khai thi hành Luật Hợp tác xã năm 2012. Chỉ thị này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Chỉ thị số 12/CT-TTg nêu rõ những nhiệm vụ, giải pháp để Luật Hợp tác xã triển khai hiệu quả và thực sự phát huy hiệu lực trong thực tiễn như sau:
Như vậy, có thể thấy, Chỉ thị số 12/CT-TTg đã đưa ra các nhiệm vụ và biện pháp hữu hiệu để triển khai một cách hiệu quả và phát huy hiệu lực trong thực tiễn của Luật Hợp tác xã, từ đó đảm bảo và thúc đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới hình thức hợp tác xã.