Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Bản tin pháp luật số 28/2018
Trả lời

Hồ sơ yêu cầu bồi thường trong tố tụng hình sự thuộc trách nhiệm của Viện Kiểm sát
Trả lời

Ngày 29/6/2018, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 304/QĐ-VKSTC quy định về quy trình giải quyết yêu cầu bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc trách nhiệm của Viện Kiểm sát nhân dân. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.
Theo đó, với nội dung yêu cầu bồi thường trong tố tụng hình sự thuộc trách nhiệm của Viện Kiểm sát, Quyết định số 304/QĐ-VKSTC quy định về thành phần hồ sơ bao gồm:
1. Văn bản yêu cầu bồi thường;
2. Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;
3. Tài liệu chứng minh nhân thân của người bị thiệt hại gồm một trong các giấy tờ sau: Chứng minh thư nhân dân, căn cước công dân, hộ chiếu, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh, giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị thiệt hại cư trú hoặc xác nhận của cơ quan, tổ chức nơi người bị thiệt hại làm việc;
4. Tài liệu chứng minh nhân thân của người yêu cầu bồi thường và chứng minh tư cách là người đại diện hoặc người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại không trực tiếp yêu cầu bồi thường;
5. Tài liệu chứng minh các thiệt hại thực tế yêu cầu bồi thường và các tài liệu khác có liên quan.
Thông qua những hướng dẫn cụ thể về thành phần hồ sơ, Quyết định số 304/QĐ-VKSTC đã tạo điều kiện thuận lợi cho người bị thiệt hại thực hiện tốt quyền yêu cầu bồi thường, đồng thời, đây cũng là cơ sở để Viện Kiểm sát nhân dân các cấp giải quyết các vướng mắc phát sinh trong thực tiễn triển khai, từ đó sớm giải quyết các yêu cầu bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự.

Bảo vệ người tố cáo
Trả lời

Ngày 12/06/2018, Quốc hội đã thông qua Luật số 25/2018/QH14 quy định về tố cáo. Luật Tố cáo năm 2018 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2019.
Theo đó, Luật Tố cáo năm 2018 quy định về bảo vệ người tố cáo như sau:
1. Bảo vệ người tố cáo là việc bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo; bảo vệ vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo, vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo (gọi chung là người được bảo vệ). Người tố cáo được bảo vệ bí mật thông tin cá nhân, trừ trường hợp người tố cáo tự tiết lộ.
2. Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm bảo vệ bí mật thông tin, vị trí công tác, việc làm của người được bảo vệ thuộc quyền quản lý và những nội dung bảo vệ khác nếu thuộc thẩm quyền của mình; trường hợp không thuộc thẩm quyền thì yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ. Cơ quan tiếp nhận, xác minh nội dung tố cáo có trách nhiệm bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo.
3. Các biện pháp bảo vệ được áp dụng cụ thể như sau:
– Biện pháp bảo vệ bí mật thông tin: Giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người tố cáo trong quá trình khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu do người tố cáo cung cấp; bố trí thời gian, địa điểm, lựa chọn phương thức làm việc phù hợp để bảo vệ bí mật thông tin cho người tố cáo khi làm việc trực tiếp với người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
– Biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm: Tạm đình chỉ, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định xử lý kỷ luật hoặc quyết định khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ; khôi phục vị trí công tác, vị trí việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người được bảo vệ; xem xét bố trí công tác khác cho người được bảo vệ nếu có sự đồng ý của họ để tránh bị trù dập, phân biệt đối xử.
– Biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm: Đưa người được bảo vệ đến nơi an toàn; yêu cầu người có hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ chấm dứt hành vi vi phạm.
Như vậy, có thể thấy, Luật Tố cáo năm 2018 đã thiết lập các cơ chế khá rõ ràng nhằm bảo vệ người tố cáo, qua đó tạo khuyến khích công dân thực hiện tốt quyền tố cáo, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước và ổn định tình hình kinh tế – xã hội của đất nước.

Quy định mới về ủy quyền trong việc giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu
Trả lời

Ngày 15/05/2018, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu tại Tòa án. Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.
Một trong các điểm mới nổi bật của Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP là quy định về việc ủy quyền và ủy quyền lại của cá nhân, pháp nhân trong việc khởi kiện, tham gia tố tụng trong các vụ án tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu. Cụ thể:
1. Cá nhân được quyền ủy quyền cho pháp nhân hoặc cá nhân khác tham gia tố tụng tại Tòa án có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.
2. Pháp nhân có quyền ủy quyền cho pháp nhân hoặc cá nhân khác khởi kiện, tham gia tố tụng tại Tòa án có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.
3. Cá nhân, pháp nhân được ủy quyền được ủy quyền lại cho pháp nhân, cá nhân khác tham gia tố tụng nếu bên ủy quyền đồng ý bằng văn bản.
Khi giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, nếu hợp đồng ủy quyền được xác lập trước ngày 01/01/2017 giữa tổ chức, cá nhân chưa hoặc đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án không phát sinh tranh chấp về hợp đồng ủy quyền đó thì Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng ủy quyền mà không yêu cầu các bên phải xác lập lại.
Bằng những quy định chi tiết và cụ thể, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP đã hỗ trợ giảm thiểu những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn giải quyết các vụ án tranh chấp về xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu, từ đó tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng có thể rút ngắn thời gian tố tụng, tiết kiệm chi phí, đảm bảo việc xử lý nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được hiệu quả.

Tăng tỷ lệ ký quỹ ban đầu của hợp đồng tương lai chỉ số VN30
Trả lời

Ngày 13/07/2018, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành Công văn số 4350/UBCK-PTTT về việc chấp thuận điều chỉnh tăng tỷ lệ ký quỹ ban đầu của hợp đồng tương lai chỉ số VN30 (là chỉ số giá của 30 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh có giá trị vốn hoá và thanh khoản hàng đầu, đáp ứng các tiêu chí sàng lọc). Công văn này có hiệu lực kể từ ngày 18/07/2018.
Theo đó, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận đề nghị của Trung tâm Lưu ký chứng khoán về việc điều chỉnh tỷ lệ ký quỹ ban đầu tối thiểu cho các sản phẩm hợp đồng tương lai chỉ số VN30 từ mức 10% lên 13%. Với tỷ lệ ký quỹ mới được công bố, Thành viên bù trừ sẽ phải rà soát và tính toán lại giá trị ký quỹ trên từng tài khoản nhà đầu tư để yêu cầu nộp bổ sung nếu cần thiết.
Trước khi Công văn số 4350/UBCK-PTTT có hiệu lực, Trung tâm Lưu ký chứng khoán áp dụng tỷ lệ ký quỹ ban đầu tối thiểu cho các sản phẩm hợp đồng tương lai chỉ số VN30 là 10%. Theo đó, các Thành viên bù trừ trước khi thực hiện giao dịch phải nộp cho Trung tâm Lưu ký chứng khoán tối thiểu 10% giá trị giao dịch đối với các vị thế mở đứng tên Thành viên bù trừ (bao gồm cả giao dịch của nhà đầu tư).
Như vậy, so với các văn bản trước đó, có thể thấy, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có xu hướng siết chặt hoạt động ký quỹ đối với sản phẩm hợp đồng tương lai, tuy nhiên, theo đánh giá, mức tăng hiện tại không quá cao và không gây áp lực nộp bổ sung ký quỹ cho các nhà đầu tư.

Ban hành Quy chế cung cấp thông tin cho công dân
Trả lời

Ngày 12/07/2018, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Quyết định số 1164/QĐ-BTTTT về quy chế cung cấp thông tin cho công dân. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Quyết định số 1164/QĐ-BTTTT có những nội dung mới đáng chú ý như sau:
1. Về phân công trách nhiệm
– Bộ trưởng chịu trách nhiệm chỉ đạo chung về việc cung cấp thông tin cho công dân trong lĩnh vực trực tiếp phụ trách, các Thứ trưởng chỉ đạo về việc cung cấp thông tin cho công dân thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách.
– Văn phòng Bộ là đơn vị đầu mối tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin và trả kết quả cung cấp thông tin theo yêu cầu, Trung tâm Thông tin chịu trách nhiệm đảm bảo các điều kiện kỹ thuật và cập nhật các thông tin tại chuyên mục về tiếp cận thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Thông tin và Truyền thông.
2. Về công khai thông tin
– Đối với thông tin phải được công khai theo quy định, các đơn vị chủ trì tạo ra thông tin có trách nhiệm rà soát, kiểm tra tính bí mật của thông tin và loại bỏ các thông tin công dân không được tiếp cận, thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện trước khi công khai.
– Các đơn vị thuộc Bộ có trách nhiệm phối hợp với Văn phòng Bộ và Trung tâm Thông tin đăng tải bản điện tử tại chuyên mục về tiếp cận thông tin trên Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin và Truyền thông. Trường hợp thông tin được công khai tại các chuyên mục khác trên Cổng thông tin điện tử thì tại Danh mục thông tin công khai phải kèm theo đường dẫn truy cập thông tin.
3. Về cung cấp thông tin theo yêu cầu
– Văn phòng Bộ có trách nhiệm tiếp nhận Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin trực tiếp tại Trụ sở Bộ Thông tin và Truyền thông. Trường hợp thông tin trên Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin không cụ thể, rõ ràng, Văn phòng Bộ hướng dẫn người yêu cầu cung cấp thông tin bổ sung theo quy định.
– Văn phòng Bộ tiến hành cập nhật yêu cầu cung cấp thông tin vào sổ theo dõi cung cấp thông tin theo yêu cầu và lập Phiếu tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin, trong đó ghi rõ thời hạn giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin là 10 ngày làm việc.
Thông qua những quy định chi tiết và cụ thể về hoạt động cung cấp thông tin cho công dân, Quyết định số 1164/QĐ-BTTTT được đánh giá đã đảm bảo quyền được tiếp cận thông tin của người dân, đồng thời góp phần tăng cường sự kiểm soát, quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động cung cấp thông tin cho công dân.

Hướng dẫn xử lý phế liệu nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam
Trả lời

Ngày 17/07/2018, Tổng Cục Hải quan ban hành Công văn số 4202/TCHQ-PC hướng dẫn quản lý phế liệu nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam. Công văn này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Công văn số 4202/TCHQ-PC hướng dẫn quy trình xử lý hàng hóa là phế liệu, hàng hóa đã qua sử dụng có đặc trưng của phế liệu tồn đọng như sau:
1. Cục Hải quan rà soát, thông báo cho doanh nghiệp/hãng tàu/đại lý hãng tàu phối hợp làm việc để xác định chủ sở hữu, phân loại theo chủng loại, số lượng, khối lượng, thành phần, tính chất, thời gian, địa điểm lưu giữ;
2. Thu thập, phân tích thông tin, điều tra, xác minh, chủ động kiểm tra vắng mặt người khai hải quan đối với lô hàng có dấu hiệu vi phạm, có dấu hiệu lợi dụng hoạt động nhập khẩu phế liệu để thực hiện hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới;
3. Trên cơ sở kết quả của các hoạt động nêu trên, hàng hóa tồn đọng được xử lý như sau:
a) Hàng hóa là chất thải, chất thải nguy hại:
– Trường hợp được xác định là tang vật thuộc vụ án hình sự thì xử lý theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự;
– Trường hợp được xác định không phải là tang vật của vụ án hình sự thì xử phạt vi phạm hành chính theo quy định và buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
b) Hàng hóa là phế liệu:
– Người nhận hàng là doanh nghiệp có Giấy xác nhận đủ điều kiện bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất: đôn đốc người nhận hàng thực hiện thủ tục hải quan theo quy định;
– Người nhận hàng là doanh nghiệp không có Giấy xác nhận đủ điều kiện bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất: yêu cầu hãng tàu/đại lý hãng tàu thông báo cho người nhận hàng về việc không đủ điều kiện để làm thủ tục nhập khẩu và đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
– Trường hợp không có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường: yêu cầu hãng tàu/đại lý hãng tàu thông báo cho người nhận hàng về việc cơ quan hải quan không có cơ sở để xem xét thông quan và phải đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
4. Xử lý hàng hóa là phế liệu tồn đọng như sau:
– Đối với hàng hóa là phế liệu tồn đọng tại cảng nhưng chưa và đang thực hiện xử lý thì quy trình thực hiện theo các Bước 1, 2, 3 như trên.
– Đối với hàng hóa là phế liệu tồn đọng tại cảng đã hoàn thành thực hiện xử lý thì báo cáo Tổng Cục Hải quan (qua Cục Giám sát quản lý về hải quan) nội dung, kết quả xử lý từng lô hàng cụ thể.
Những hướng dẫn trong Công văn số 4202/TCHQ-PC được đánh giá là những chỉ đạo hiệu quả, kịp thời của Tổng Cục Hải quan trong bối cảnh hiện nay, khi các hoạt động nhập khẩu, mua bán phế liệu có chiều hướng tăng mạnh, diễn biến phức tạp với nhiều trường hợp buôn lậu phế liệu, ẩn chứa nhiều nguy cơ ô nhiễm ảnh hưởng môi trường sống và gây ra bức xúc trong dư luận.

Bổ sung một số ngành mới trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
Trả lời

Ngày 06/07/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg về hệ thống ngành kinh tế Việt Nam. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 20/8/2018.
Theo đó, Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg đã bổ sung nhiều ngành nghề mới trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, cụ thể nêu tại Danh mục Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam gồm 05 cấp như sau:
1. Ngành cấp 1 gồm 21 ngành được mã hóa theo bảng chữ cái lần lượt từ A đến U;
2. Ngành cấp 2 gồm 88 ngành; mỗi ngành được mã hóa bằng hai số theo ngành cấp 1 tương ứng;
3. Ngành cấp 3 gồm 242 ngành; mỗi ngành được mã hóa bằng ba số theo ngành cấp 2 tương ứng;
4. Ngành cấp 4 gồm 486 ngành (tăng 49 ngành); mỗi ngành được mã hóa bằng bốn số theo ngành cấp 3 tương ứng;
5. Ngành cấp 5 gồm 734 ngành (tăng 92 ngành); mỗi ngành được mã hóa bằng năm số theo ngành cấp 4 tương ứng.
Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg có hiệu lực sẽ thay thế Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg. Việc tăng thêm số lượng ngành nghề và chi tiết các ngành trong hệ thống ngành kinh tế Việt Nam nhằm đáp ứng xu thế đa dạng hóa các ngành nghề kinh doanh trên thực tế, góp phần giải quyết tình trạng không có ngành nghề phù hợp trong hệ thống ngành kinh tế Việt Nam khi đăng ký ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp.

Cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh
Trả lời

Ngày 13/07/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 20/CT-TTg về việc chấn chỉnh hoạt động thanh tra kiểm tra đối với doanh nghiệp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Chỉ thị này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra chỉ thị định hướng về kế hoạch cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh như sau:
1. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quán triệt cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành, cắt giảm điều kiện kinh doanh là một trong những giải pháp quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng, giải phóng nguồn lực xã hội;
2. Trước ngày 15/08/2018, các bộ, ngành phải hoàn thành việc ban hành theo thẩm quyền và trình cấp có thẩm quyền các văn bản để thực thi phương án cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành, cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh;
3. Các bộ, cơ quan ngang bộ trong quá trình xây dựng dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, danh mục hàng hóa, sản phẩm kiểm tra chuyên ngành phải bảo đảm rõ ràng, không tạo rào cản gia nhập thị trường, không làm phát sinh chi phí cho doanh nghiệp
Có thể thấy, Chỉ thị số 20/CT-TTg đã thể hiện quyết tâm của Nhà nước trong việc nghiêm túc quán triệt việc thực thi các phương án cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, tạo lợi thế cạnh tranh cho quốc gia.

Phê duyệt phương án đơn giản hóa điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trả lời

Ngày 09/07/2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 1417/QĐ-NHNN phê duyệt phương án đơn giản hóa điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Quyết định này có hiệu lực từ ngày ban hành.
Theo đó, Quyết định số 1417/QĐ-NHNN giao nhiệm vụ cụ thể đối với các đơn vị thực hiện phương án đơn giản hóa điều kiện kinh doanh như sau:
1. Các đơn vị đầu mối soạn thảo có trách nhiệm tiếp thu nội dung phương án đã được phê duyệt khi xây dựng dự thảo Nghị định, Thông tư của Ngân hàng Nhà nước trong quá trình sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (đã có kế hoạch trình Chính phủ hoặc trình Thống đốc ban hành trong Quý III năm 2018).
2. Đối với phương án đơn giản hóa điều kiện kinh doanh liên quan đến kết quả xếp hạng các tổ chức tín dụng, cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng có trách nhiệm tiếp thu phương án đã được phê duyệt tại các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có liên quan sau khi Thông tư xếp hạng các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được ban hành.
3. Đối với phương án đơn giản hóa điều kiện kinh doanh không thuộc các trường hợp nêu trên, giao Vụ Pháp chế làm đầu mối xây dựng 01 Nghị định và 01 Thông tư theo hình thức một văn bản sửa nhiều văn bản để thực hiện phương án đơn giản hóa điều kiện kinh doanh. Thời hạn trình Chính phủ ban hành Nghị định và thời hạn ban hành Thông tư của Ngân hàng Nhà nước thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.
4. Trong quá trình xây dựng Nghị định, Thông tư thực thi phương án đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, các đơn vị tiếp tục chủ động rà soát để đề xuất bổ sung, điều chỉnh các nội dung đơn giản hóa phù hợp với yêu cầu quản lý và thực tế công tác xây dựng pháp luật tại thời điểm xây dựng văn bản.
Như vậy, có thể thấy, Quyết định số 1417/QĐ-NHNN đem lại kỳ vọng sẽ giúp quá trình thành lập và hoạt động của các ngân hàng trở nên đơn giản hơn khi giảm thiểu tối đa các điều kiện kinh doanh phức tạp hiện nay.