Ngày 31/07/ 2018 Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 16/2018/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Thông tư số 16/2018/TT-NHNN đã có những sửa đổi, bổ sung về tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn, cụ thể như sau:
1. Dư nợ có thời hạn trên 01 (một) năm:
– Các khoản cho vay, cho thuê tài chính (bao gồm cả các khoản cho vay, cho thuê tài chính đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam), trừ các trường hợp sau:
+ Khoản cho vay, cho thuê tài chính bằng nguồn ủy thác của Chính phủ, cá nhân và của tổ chức khác (bao gồm cả tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác tại Việt Nam; ngân hàng mẹ, chi nhánh ở nước ngoài của ngân hàng mẹ) mà các rủi ro liên quan đến khoản cho vay, cho thuê tài chính này do Chính phủ, cá nhân và tổ chức này chịu;
+ Khoản cho vay các chương trình, dự án bằng nguồn vay tái cấp vốn Ngân hàng Nhà nước theo quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
– Các khoản ủy thác cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho vay, cho thuê tài chính mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ủy thác chịu rủi ro;
– Các khoản mua, đầu tư vào giấy tờ có giá (bao gồm cả trái phiếu do Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam phát hành), trừ giấy tờ có giá được sử dụng trong các giao dịch của Ngân hàng Nhà nước;
– Đối với các khoản cho vay, cho thuê tài chính, ủy thác mà có nhiều khoản nợ tương ứng với kỳ hạn trả nợ khác nhau thì thời hạn còn lại để tính vào dư nợ cho vay trung, dài hạn được xác định đối với từng khoản nợ tương ứng với kỳ hạn trả nợ cảu khoản nợ đó.
2. Dự nợ gốc bị quá hạn của khoản cho vay, ủy thác cho vay, cho thuê tài chính, số dư mua, đầu tư giấy tờ có giá.
Có thể thấy, việc sửa đổi bổ sung những quy định về giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nói chung góp phần cân đối ngân sách nhà nước, đảm bảo về mặt tài chính cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay.
Ngày 12/06/2018, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch số 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC quy định việc phối hợp trong thi hành quyết định của Tòa án giải quyết phá sản. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/08/2018.
Theo đó, Thông tư liên tịch số 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC quy định cụ thể về các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án trong giải quyết phá sản như sau:
1. Sau khi nhận được thông báo của Tòa án về việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là người phải thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định buộc doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự hoặc trả lương cho người lao động. Thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án.
2. Trường hợp Tòa án đã thụ lý giải quyết vụ việc phá sản, cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án nhưng sau đó Tòa án ra quyết định không mở thủ tục phá sản theo quy định tại khoản 1 Điều 71 Luật Phá sản thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thu hồi quyết định tạm đình chỉ thi hành án và ra quyết định tiếp tục thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 37 và khoản 3 Điều 49 Luật Thi hành án dân sự.
3. Trường hợp Tòa án đã ra quyết định mở thủ tục phá sản, cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định đình chỉ thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 71 Luật Phá sản nhưng sau đó Tòa án ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản theo quy định tại khoản 1 Điều 86 Luật Phá sản và đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 95 Luật Phá sản thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thu hồi quyết định đình chỉ thi hành án và ra quyết định tiếp tục thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 137 Luật Thi hành án dân sự.
Như vậy, có thể thấy, Thông tư liên tịch số 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC đã có những quy định cụ thể, chi tiết về các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án trong giải quyết phá sản. Qua đó, Thông tư này được kỳ vọng sẽ tháo gỡ các vướng mắc, bất cập xảy ra trong thời gian vừa qua, tạo cơ chế phối hợp rõ ràng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết phá sản.
Ngày 23/07/2018, Bộ Công thương đã ban hành Công văn số 5778/BCT-TTTN về điều hành kinh doanh xăng dầu. Công văn này có hiệu lực thi hành kể từ 15 giờ cùng ngày.
Theo đó, Công văn số 5778/BCT-TTTN đã điều chỉnh giá xăng, dầu theo hướng giảm, cụ thể như sau:
1. Giá cơ sở các mặt hàng xăng, dầu tại kỳ công bố so với giá cơ sở kỳ trước liền kề (07/7/2018):
– Xăng E5 RON92: 20.464 đồng/lít, giảm 69 đồng/lít
– Xăng RON95-III: 21.272 đồng/lít, giảm 66 đồng/lít
– Dầu điêzen 0.05S: 17.242 đồng/lít, giảm 213 đồng/lít
– Dầu hỏa: 16.174 đồng/lít, giảm 69 đồng/lít
– Dầu madút 180CST 3.5S: 14.826 đồng/kg, giảm 116 đồng/kg
2. Trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu: Giữ nguyên mức trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu như hiện hành.
3. Chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu:
– Xăng E5 RON92: 853 đồng/lít;
– Xăng RON95: 95 đồng/lít;
– Dầu madút: 70 đồng/kg.
4. Giá bán xăng dầu sau khi thực hiện việc trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu:
– Xăng E5 RON92: không cao hơn 19.611 đồng/lít;
– Xăng RON95-III: không cao hơn 21.177 đồng/lít;
– Dầu điêzen 0.05S: không cao hơn 17.242 đồng/lít;
– Dầu hỏa: không cao hơn 16.174 đồng/lít;
– Dầu madút 180CST 3.5S: không cao hơn 14.756 đồng/kg.
Như vậy, căn cứ trên thực tế diễn biến giá thành phẩm xăng dầu thế giới kể từ ngày 08/07/2018 đến hết ngày 22/07/2018, Bộ Công Thương đã tiến hành việc điều chỉnh giá xăng dầu tại thị trường Việt Nam.
Ngày 18/07/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 21/CT-TTg về đẩy mạnh triển khai các giải pháp nhằm giảm chi phí logistics, kết nối hiệu quả hệ thống hạ tầng giao thông. Chỉ thị này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Chỉ thị số 21/CT-TTg quy định nhiệm vụ cụ thể của các Bộ, ngành, địa phương như sau:
1. Bộ Giao thông vận tải cần xử lý nghiêm các vi phạm về tải trọng, quản lý việc lắp đặt, sử dụng thiết bị giám sát hành trình xe, thiết bị nhận dạng tự động, việc cấp và sử dụng phù hiệu, kê khai, niêm yết giá cước của các đơn vị vận tải; phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong việc quản lý, giám sát và xử lý vi phạm về hoạt động vận tải trên địa bàn để bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động vận tải; quản lý chặt chẽ hoạt động của cảng, bến thủy nội địa và cảng biển, bảo đảm theo đúng quy mô, công năng được duyệt để nâng cao hiệu quả quản lý quy hoạch, phân bổ hàng hóa hợp lý giữa các khu vực, các loại hình vận tải.
2. Bộ Công Thương cần tập trung cải thiện cơ sở hạ tầng logistics gắn với thương mại điện tử, kết hợp logistics với thương mại điện tử theo xu hướng phát triển hiện nay trên thế giới và khu vực. Thông qua các hoạt động nhằm nâng cao năng lực doanh nghiệp, khuyến khích, hướng dẫn doanh nghiệp trong một số ngành áp dụng mô hình quản trị chuỗi cung ứng tiên tiến trong quá trình sản xuất, kinh doanh, trong đó chú trọng triển khai các hoạt động logistics trên nền tảng công nghệ thông tin và các công nghệ mới trong logistics.
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp dịch vụ logistics, ban hành mã số đăng ký kinh doanh theo nhóm ngành cho dịch vụ logistics.
4. Bộ Tài chính đẩy mạnh áp dụng cơ chế một cửa Quốc gia cho tất cả các thủ tục liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh, người và phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh.
5. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương dành quỹ đất thích hợp để xây dựng trung tâm phân phối hàng hóa, dịch vụ hậu cảng, cảng cạn, kết nối thuận tiện với mạng lưới giao thông quốc gia để từng bước tạo thành mạng lưới kết cấu hạ tầng logistics hiện đại.
Thông qua các quy định rõ ràng về phạm vi nhiệm vụ của các Bộ, ngành, địa phương, Chỉ thị số 21/CT-TTg được kỳ vọng sẽ khuyến khích dịch vụ logistics phát triển mạnh mẽ, đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển kinh tế đất nước.
Ngày 29/06/2018, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 15/2018/TT-BCT quy định về việc phân luồng trong quy trình cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa ưu đãi (Certificate of Original – C/O). Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15/08/2018.
Theo đó, Thông tư số 15/2018/TT-BCT quy định về điều kiện áp dụng Luồng Xanh trong quy trình cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa ưu đãi như sau:
1. Thương nhân được ưu tiên miễn giảm, nộp chậm chứng từ, giảm thời gian cấp C/O và miễn kiểm tra thực tế hàng hóa trong quá trình đề nghị cấp C/O.
2. Để được áp dụng chế độ Luồng Xanh, thương nhân cần đạt được các điều kiện sau:
a) Về đối tượng áp dụng
– Thương nhân được Bộ Công Thương công nhận là doanh nghiệp xuất khẩu uy tín;
– Thương nhân được Bộ Tài chính công nhận là doanh nghiệp ưu tiên trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan;
b) Về năng lực
– Tuân thủ pháp luật: không vi phạm quy định về xuất xứ trong 2 năm gần nhất;
– Lưu trữ hồ sơ: có hệ thống lưu trữ hồ sơ (hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử) đầy đủ để đảm bảo chứng minh tính xác thực của C/O và xuất xứ hàng hóa trong thời hạn lưu trữ;
– Kinh nghiệm sử dụng C/O ưu đãi: thực hiện quy trình khai báo C/O điện tử qua Hệ thống quản lý và cấp chứng nhận xuất xứ điện tử (www.ecosys.gov.vn) và có tần suất đề nghị cấp ít nhất 30 bộ C/O ưu đãi/năm.
Thông qua các quy định cụ thể, Thông tư số 15/2018/TT-BCT tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tàu được hưởng những quyền ưu tiên trong quy trình đề nghị cấp C/O ưu đãi, từ đó thúc đẩy sự phát triển của toàn ngành xuất nhập khẩu.
Ngày 18/07/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 877/QĐ-TTg về ban hành danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 để các Bộ, ngành, địa phương thực hiện trong năm 2018-2019. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Quyết định số 877/QĐ-TTg đã đưa ra danh mục dịch vụ công trực tuyến sẽ bắt đầu được áp dụng trong năm 2018-2019 với các bộ, ngành, địa phương như sau:
1. Số lượng dịch vụ công trực tuyến được bổ sung nhiều nhất ở Bộ Thông tin và Truyền thông, với 63 dịch vụ công ở cấp Bộ và 7 dịch vụ ở cấp địa phương.
2. Số lượng dịch vụ công trực tuyến được bổ sung ít nhất ở Bộ Ngoại giao và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với chỉ 1 dịch vụ công.
3. Việc bổ sung số lượng dịch vụ công trực tuyến được áp dụng với tất cả các Bộ, ngành có quan hệ với ngân sách, người dân và doanh nghiệp.
Như vậy, có thể thấy, Quyết định số 877/QĐ-TTg tiếp tục là sự thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc đẩy nhanh tốc độ áp dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính, từ đó đảm bảo công khai, minh bạch, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của đối tượng và cơ quan thực hiện thủ tục hành chính.
Ngày 16/07/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 868/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1168/QĐ-TTg ngày 24/07/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2020. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Quyết định số 868/QĐ-TTg sửa đổi bổ sung Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2020 như sau:
1. Kinh phí dự kiến thực hiện Chương trình là 7.300.000.000.000 (Bảy nghìn ba trăm tỷ đồng), giảm 3.700.000.000.000 (Ba nghìn bảy trăm tỷ đồng) so với Quyết định số 1168/QĐ-TTg, số tiền này được đảm bảo từ Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam, trong đó:
– Kế hoạch kinh phí dự kiến dành cho các nhiệm vụ đầu tư cơ sở hạ tầng viễn thông của tất cả các chương trình thành phần chiếm 50% tổng kinh phí của toàn bộ Chương trình;
– Kế hoạch kinh phí dự kiến hỗ trợ cho một doanh nghiệp viễn thông để phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông trong toàn bộ giai đoạn thực hiện Chương trình không vượt quá 70% tổng kinh phí dành cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông của Chương trình, trừ trường hợp trên địa bàn cụ thể hoặc đối với nhiệm vụ cụ thể, chỉ có duy nhất một doanh nghiệp đủ điều kiện theo quy định để tham gia thực hiện nhiệm vụ của Chương trình;
– Việc quyết toán các nhiệm vụ của Chương trình được thực hiện trên cơ sở kết quả thực hiện của doanh nghiệp và dự toán đã được phê duyệt.
2. Mức đóng góp của doanh nghiệp viễn thông vào Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam:
– Đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng là 0,7% doanh thu các dịch vụ viễn thông theo quy định pháp luật. Mức đóng góp này giảm 0,8% so với quy định tại Quyết định số 1168/QĐ-TTg (1,5%)
– Dựa vào tình hình thực tế, Bộ Thông tin và Truyền thông trình Thủ tướng Chính phủ xem xét điều chỉnh mức đóng góp của doanh nghiệp viễn thông vào Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam để đảm bảo triển khai hiệu quả các nhiệm vụ của Chương trình trong trường hợp cần thiết.
Như vậy, có thể thấy, Quyết định số 868/QĐ-TTg đã có những sửa đổi bổ sung phù hợp với bối cảnh kinh tế đất nước hiện nay nhằm mục đích đảm bảo cân bằng ngân sách Nhà nước.
Ngày 19/07/2018, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 18/2018/TT-BCT quy định về hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Công Thương. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 03/09/2018.
Theo đó, Thông tư số 18/2018/TT-BCT quy định về kiểm soát việc ban hành và thực hiện thủ tục hành chính như sau:
1. Về kiểm soát việc ban hành thủ tục hành chính
– Trong quá trình lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các đơn vị thuộc Bộ có trách nhiệm thực hiện đánh giá tác động của thủ tục hành chính. Hồ sơ đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các đơn vị thuộc Bộ phải được gửi lấy ý kiến Văn phòng Bộ trước khi gửi Vụ Pháp chế thẩm tra.
– Trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, các đơn vị chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm thực hiện việc đánh giá tác động, lấy ý kiến, gửi thẩm định thủ tục hành chính. Văn phòng Bộ chủ trì, phối hợp với đơn vị chủ trì soạn thảo tổ chức lấy ý kiến riêng đối với nội dung có quy định thủ tục hành chính dưới các hình thức phù hợp (tham vấn, hội nghị, hội thảo, tọa đàm, bằng văn bản…)
2. Về kiểm soát việc thực hiện thủ tục hành chính
– Văn phòng Bộ có trách nhiệm công khai Quyết định công bố thủ tục hành chính của Bộ trưởng Bộ Công Thương trên trang thông tin điện tử http://kstthc.moit.gov.vn của Bộ Công Thương và gửi cho các cơ quan, đơn vị có liên quan.
– Văn phòng Bộ có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị trong niêm yết công khai thủ tục hành chính.
– Văn phòng Bộ chủ trì kiểm tra nghiệp vụ thực hiện thủ tục hành chính.
Bằng các quy định chi tiết và cụ thể, phân công trách nhiệm rõ ràng cho các cơ quan trực thuộc, Bộ Công Thương kỳ vọng Thông tư số 18/2018/TT-BCT sẽ bảo đảm thực hiện có hiệu quả mục tiêu cải cách thủ tục hành chính theo hướng công khai, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện; tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của đối tượng và cơ quan thực hiện thủ tục hành chính; kịp thời loại bỏ những thủ tục hành chính không phù hợp, phức tạp, phiền hà.
Ngày 16/07/2018 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 100/2018/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 15/09/2018.
Một trong những nội dung thay đổi đáng chú ý tại Nghị định số 100/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 59/2015/NĐ-CP là về chứng chỉ hoạt động hành nghề xây dựng như sau:
1. Cho phép cá nhân không có chứng chỉ hành nghề được tham gia các hoạt động xây dựng thuộc lĩnh vực phù hợp với chuyên ngành được đào tạo.
2. Siết chặt các quy định về điều kiện chung để cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng, cụ thể là:
– Hạng II: Có trình độ đại học thuộc chuyên ngành phù hợp, có thời gian kinh nghiệm tham gia công việc với nội dung đề nghị cấp chứng chỉ từ 04 năm trở lên;
– Hạng III: Có trình độ chuyên môn phù hợp, có thời gian kinh nghiệm tham gia công việc với nội dung đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề từ 02 năm trở lên đối với cá nhân có trình độ đại học; từ 03 năm trở lên đối với cá nhân có trình độ cao đẳng hoặc trung cấp.
Như vậy, có thể thấy, Nghị định số 100/2018/NĐ-CP đã siết chặt hơn các quy định về việc cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng đối với các cá nhân đóng vai trò chủ chốt trong việc xây dựng công trình, qua đó đảm bảo các công trình được xây dựng tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.