Ngày 12/11/2019, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 22/2019/TT-BCT quy định về tạm ngừng kinh doanh chuyển khẩu, kinh doanh tạm nhập gỗ dán vào Việt Nam để tái xuất sang Hoa Kỳ. Thông tư 22/2019/TT-BCT có hiệu lực kể từ ngày 14/11/2019.
Theo đó, tạm ngừng kinh doanh chuyển khẩu, kinh doanh tạm nhập, tái xuất gỗ dán:
Tạm ngừng hoạt động kinh doanh chuyển khẩu, kinh doanh tạm nhập vào Việt Nam để tái xuất sang Hoa Kỳ đối với mặt hàng gỗ dán thuộc nhóm HS 44.12 theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư số 65/2017/TT-BTC ngày 27 tháng 6 năm 2017 của Bộ Tài chính.
Đối với những lô hàng gỗ dán đã làm thủ tục hải quan tạm nhập, chuyển khẩu trước ngày Thông tư này có hiệu lực, được tiếp tục thực hiện tái xuất, chuyển khẩu theo quy định tại Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương và các quy định hiện hành.
Trong bối cảnh mặt hàng gỗ dán nhập khẩu từ Trung Quốc bị Mỹ áp thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp khiến thuế nhập khẩu đã nâng từ 10 – 25%, mục tiêu của thông tư nhằm tăng cường quản lý xuất khẩu gỗ dán sang Mỹ để phòng tránh gian lận thương mại về xuất xứ hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp, dẫn tới nguy cơ Mỹ có thể áp dụng các biện pháp siết chặt quản lý đối với gỗ dán xuất khẩu của Việt Nam, tác động tiêu cực đến sản xuất trong nước và làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các doanh nghiệp hoạt động đúng quy định pháp luật.
Ngày 18/2019/TT-NHNN, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 18/2019/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 43/2016/TT-NHNN quy định cho vay tiêu dùng của công ty tài chính do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2020.
Trước đó, Thông tư 43/2016/TT-NHNN chỉ quy định chung về biện pháp đôn đốc, thu hồi nợ dựa trên các tiêu chí là phải phù hợp với đặc thù của khách hàng và quy định của pháp luật.
Vì vậy, tại Thông tư số 18/2019/TT-NHNN đã có quy định cụ thể hơn về biện pháp đôn đốc, thu hồi nợ, cụ thể là: “Biện pháp đôn đốc, thu hồi nợ phù hợp với đặc thù của khách hàng, quy định của pháp luật và không bao gồm biện pháp đe dọa đối với khách hàng, trong đó số lần nhắc nợ tối đa 05 (năm) lần/01 (một) ngày, hình thức nhắc nợ, thời gian nhắc nợ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay tiêu dùng nhưng phải trong khoảng thời gian từ 7 (bảy) giờ đến 21 (hai mươi mốt) giờ; không nhắc nợ, đòi nợ, gửi thông tin về việc thu hồi nợ của khách hàng đối với tổ chức, cá nhân không có nghĩa vụ trả nợ cho công ty tài chính, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; bảo mật thông tin khách hàng theo quy định của pháp luật”.
Nhìn chung, việc ban hành Thông tư số 18/2019/TT-NHNN là phù hợp, đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện tại, không những nhằm bảo vệ những cá nhân, tổ chức đang có quan hệ tín dụng tại các tổ chức tài chính, mà còn hướng đến những người liên quan của các cá nhân, tổ chức trên, nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực từ những biện pháp thu hồi nợ của các tổ chức tín dụng.
Ngày 14/11/2019, Chính phủ vừa ban hành Nghị định 86/2019/NĐ-CP quy định về mức vốn pháp định đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/01/2020.
Cụ thể, mức vốn pháp định đối với các loại hình ngân hàng, tổ chức tín dụng như sau:
1. Ngân hàng thương mại: 3.000 tỷ đồng;
2. Ngân hàng chính sách: 5.000 tỷ đồng;
3. Ngân hàng hợp tác xã: 3.000 tỷ đồng;
4. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: 15 triệu đô la Mỹ (USD);
5. Công ty tài chính: 500 tỷ đồng;
6. Công ty cho thuê tài chính: 150 tỷ đồng;
7. Tổ chức tài chính vi mô: 05 tỷ đồng;
8. Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động trên địa bàn một xã, một thị trấn: 0,5 tỷ đồng;
9. Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động trên địa bàn một phường; quỹ tín dụng nhân dân hoạt động trên địa bàn liên xã, liên xã phường, liên phường: 01 tỷ đồng.
Đối với các tổ chức tín dụng (trừ quỹ tín dụng nhân dân), chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã được cấp giấy phép thành lập và hoạt động trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành phải bảo đảm có số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu bằng mức vốn pháp định quy định kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.
Quỹ tín dụng nhân dân được cấp giấy phép thành lập và hoạt động trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành phải có biện pháp bảo đảm vốn điều lệ, giá trị thực của vốn điều lệ tối thiểu bằng mức vốn pháp định quy định trên, chậm nhất vào ngày 30/6/2021.
Kể từ ngày 15/1/2020, trường hợp có văn bản quyết định thay đổi về địa giới hành chính, phân loại đơn vị hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong thời hạn tối đa 24 tháng kể từ ngày văn bản quyết định thay đổi về địa giới hành chính, phân loại đơn vị hành chính có hiệu lực thi hành, quỹ tín dụng nhân dân phải có biện pháp bảo đảm có vốn điều lệ, giá trị thực của vốn điều lệ tối thiểu bằng mức vốn pháp định theo quy định trên.
Nghị định đã xây dựng được khung hành lang pháp lý cụ thể, rõ ràng, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, làm cho hoạt động quản lý của Nhà nước trở nên hiệu quả hơn.
Ngày 10/10/2019 Chính Phủ ban hành Nghị định 77/2019/NĐ-CP về Tổ hợp tác thay thế cho Nghị định 151/2007/NĐ-CP và chính thức có hiệu lực vào ngày 25/11/2019.Tại Nghị định 77/2019/NĐ-CP có quy định về trình tự, thủ tục của việc triệu tập cuộc họp thành viên tổ hợp tác và các quyết định của cuộc họp thành viên tổ hợp tác như sau:
1. Cuộc họp thành viên tổ hợp tác có thể quyết định các vấn đề sau đây:
a) Thông qua kết quả hoạt động của tổ hợp tác;
b) Phương án phân phối hoa lợi, lợi tức, xử lý lỗ và các vấn đề tài chính của tổ hợp tác;
c) Phương án hoạt động trong thời gian tới;
d) Xử lý tài sản chung của các thành viên tổ hợp tác;
đ) Bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm tổ trưởng, ban điều hành, nếu cần thiết;
e) Chấm dứt tư cách thành viên theo quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 11 của Nghị định này;
g) Sửa đổi, bổ sung hợp đồng hợp tác;
h) Mức thù lao, tiền thưởng của tổ trưởng, thành viên ban điều hành (nếu có);
i) Nội dung khác do tổ trưởng, ban điều hành hoặc hơn ba mươi ba phần trăm (33%) tổng số thành viên tổ hợp tác đề nghị;
k) Trường hợp khác theo quy định tại hợp đồng hợp tác.
2. Trình tự triệu tập cuộc họp thành viên tổ hợp tác
Trong trường hợp hợp đồng hợp tác không quy định cụ thể, trình tự triệu tập cuộc họp thành viên tổ hợp tác được thực hiện như sau:
a) Tổ trưởng tổ hợp tác (hoặc người được các thành viên tổ hợp tác ủy quyền) thay mặt tổ hợp tác triệu tập cuộc họp thành viên. Trong trường hợp cần thiết, đại diện của hơn ba mươi ba phần trăm (33%) tổng số thành viên tổ hợp tác có thể yêu cầu tổ trưởng tổ hợp tác (hoặc người được các thành viên tổ hợp tác ủy quyền) triệu tập cuộc họp thành viên, trừ trường hợp hợp đồng hợp tác và pháp luật có liên quan quy định khác;
b) Cuộc họp thành viên tổ hợp tác được tiến hành khi có hơn bảy mươi lăm phần trăm (75%) tổng số thành viên tổ hợp tác tham dự, trường hợp không đủ số thành viên tham dự thì phải hoãn họp tổ hợp tác và triệu tập họp tổ hợp tác lần thứ hai trong vòng 15 ngày làm việc, kể từ ngày dự định họp tổ hợp tác lần thứ nhất. Cuộc họp tổ hợp tác lần thứ hai phải có sự tham gia của tối thiểu hơn năm mươi phần trăm (50%) tổng số thành viên tổ hợp tác;
c) Biên bản cuộc họp thành viên tổ hợp tác phải được lập thành văn bản có chữ ký xác nhận của đại diện các thành viên tham gia cuộc họp, ghi cụ thể tỷ lệ phần trăm (%) số thành viên tán thành;
d) Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày tổ chức họp, tổ trưởng tổ hợp tác (hoặc người được các thành viên tổ hợp tác ủy quyền) thông báo tới toàn thể thành viên tổ hợp tác nội dung cuộc họp thành viên tổ hợp tác, trừ trường hợp hợp đồng hợp tác và pháp luật có liên quan quy định khác.
Ngày 7/11/2019, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành Thông tư 43/2019/TT-BGTVT sửa đổi Thông tư 17/2017/TBGTVT quy định về điều kiện để thuyền viên nước ngoài làm việc trên tàu biển Việt Nam. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/8/2020.
Theo đó, Thông tư bổ sung quy định thuyền viên nước ngoài làm việc trên tàu biển Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện:
Có đủ tiêu chuẩn sức khỏe thuyền viên và đảm bảo tuổi lao động theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam;
Có giấy phép lao động hoặc văn bản xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động do Cục Việc làm thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cấp;
Có hợp đồng lao động thuyền viên theo quy định của pháp luật Việt Nam và tuân thủ Công ước Lao động hàng hải 2006 của Tổ chức Lao động quốc tế. Hợp đồng lao động thuyền viên phải phù hợp với giấy phép lao động hoặc văn bản xác nhận không thuộc điện cấp giấy phép lao động;
Có hộ chiếu còn thời hạn ít nhất 6 tháng do cơ quan có thẩm quyền của quốc gia mà thuyền viên đó mang quốc tịch cấp.
So với văn bản pháp luật hiện hành, Thông tư 43/2019/TT-BGTVT đã sửa đổi, bổ sung thêm một số điều kiện mới, như: Đối với trường hợp không thuộc diện cấp Giấy phép lao động thì phải có văn bản xác nhận do Cục Việc làm Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cấp; Bổ sung điều kiện về thời hạn của Hộ chiếu phải còn thời hạn ít nhất 06 tháng do cơ quan có thẩm quyền của quốc gia mà thuyền viên đó mang quốc tịch cấp; Đồng thời thuyền viên phái có kinh nghiệm về thời gian đi biển tối thiểu 36 tháng.
Ngoài ra, thuyền viên phải có đủ chứng chỉ chuyên môn do cơ quan có thẩm quyền Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của quốc gia, vùng lãnh thổ đã được Việt Nam ký thỏa thuận về việc công nhận chứng chỉ chuyên môn cấp. Trường hợp chứng chỉ chuyên môn do cơ quan có thẩm quyền của quốc gia, vùng lãnh thổ đã được Việt Nam ký thỏa thuận công nhận chứng chỉ chuyên môn cấp theo quy tắc II/1, II/2, II/3, II/4, II/5, III/1, III/2, III/3, III/4, III/5, III/6, III/7, IV/2, V/1-1, V/1-2 của Công ước STCW thì phải có Giấy công nhận Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn.
Thông tư 43/2019/TT-BGTVT đã có những quy định chặt chẽ và chi tiết hơn các điều kiện đối với thuyền viên nước ngoài khi làm việc trên tàu biển Việt Nam so với văn bản pháp luật hiện hành.
Ngày 23 tháng 9 năm 2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 74/2019/NĐ-CP Quy định Về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08 tháng 11 năm 2019.
Theo quy định tại Điều 24 của Nghị định số 74/2019/NĐ-CP:
“Điều 24. Mức vay
1. Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, mức vay tối đa là 02 tỷ đồng/dự án và không quá 100 triệu đồng cho 01 người lao động được tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm.
2. Đối với người lao động, mức vay tối đa là 100 triệu đồng.
3. Mức vay cụ thể do Ngân hàng Chính sách xã hội xem xét căn cứ vào nguồn vốn, chu kỳ sản xuất, kinh doanh, khả năng trả nợ của đối tượng vay vốn để thỏa thuận với đối tượng vay vốn.”
Theo đó, so với Nghị định số 61/2015/NĐ-CP, mức vay tối đa đối vơi cơ sở sản xuất, kinh doanh đã tăng gấp đối lên mức là 02 tỷ đồng/dự án và không quá 100 triệu đồng cho 01 người lao động được tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm. Bên cạnh đó, mức vay tối đa đối với người lao động cũng đã tăng gấp đôi lên mức 100 triệu đồng.
Việc gia tăng hạn mức vay tối đa góp phần giúp các cơ sở sản xuất kinh doanh, người lao động được tiếp xúc với các nguồn hồ trợ vốn từ nhà nước, tạo động lực để gia tăng phát triển kinh tế.
Thông tư số 06/2019/TT-BXD (“Thông tư”) do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2020. Nội dung Thông tư nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của “các Thông tư liên quan đến quản lý, sử dụng nhà chung cư do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành”. Theo đó có rất nhiều nội dung mới được sửa đổi, bổ sung. Tuy nhiên bài viết này chỉ tập chung một số điểm nổi bật được sửa đổi bổ sung so với Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Thông tư số 02/2016/TT-BXD ngày 15/02/2016. Cụ thể như sau:
Phạm vi điều chỉnh của Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư:
Mở rộng phạm vi điều chỉnh: thêm 1 loại hình “Nhà chung cư sử dụng làm nhà ở công vụ”.
Nguyên tắc quản lý và sử dụng nhà chung cư: 02 điểm mới
Thứ nhất, quy định mang tính cởi mở, dân chủ hơn. Cụ thể trước đó quy định việc quản lý, sử dụng nhà chung cư phải tuân thủ nội quy quản lý, sử dụng của từng nhà chung cư, quy định của pháp luật về nhà ở, Quy chế này và pháp luật có liên quan. Nay, việc quản lý, sử dụng nhà chung cư được thực hiện trên cơ sở tự nguyện cam kết, thỏa thuận giữa các bên miễn sao không trái pháp luật về nhà ở, pháp luật có liên quan và đạo đức xã hội thì đều được ủng hộ và thừa nhận.
Thứ hai, bổ sung thêm một nguyên tắc cho thấy dự tiến bộ trong tư duy của cơ quan hành chính nhà nước trong hoạt động quản lý. Cụ thể: Bổ sung nguyên tắc khuyến khích chủ đầu tư, Ban quản trị, đơn vị quản lý vận hành, chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin trong quá trình quản lý, sử dụng, vận hành nhà chung cư.
Lập, bàn giao và lưu trữ hồ sơ nhà chung cư
Trước đây, chỉ quy định trách nhiệm của Ban quản trị nhà chung cư phải cung cấp một bộ hồ sơ đã nhận bàn giao của chủ đầu tư cho đơn vị quản lý vận hành mà không quy định trách nhiệm bàn giao ngược lại. Nay Thông tư mới đã bổ sung thêm trách nhiệm của đơn vị quản lý vận hành rằng khi không còn thực hiện quản lý vận hành nhà chung cư “thì phải” bàn giao lại hồ sơ này cho Ban quản trị, tránh tình trạng không hợp tác và không bàn giao lại hồ sơ nhà chung cư.
Điều kiện để tổ chức hội nghị nhà chung cư lần đầu: Thay đổi 02 nội dung chính:
Thứ nhất: Hội nghị của tòa nhà chung cư phải được tổ chức trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày nhà chung cư đó được bàn giao đưa vào sử dụng và có tối thiểu 50% số căn hộ đã được bàn giao cho người mua, thuê mua. Tuy nhiên, quy định mới đã “loại trừ” những căn hộ mà chủ đầu tư giữ lại không bán hoặc chưa bán, chưa cho thuê mua. Trước đó, những căn hộ này vẫn được tính để xác đinh tỷ xem xét tổ chức hội nghị nhà chung cư lần đầu.
Thứ hai: Hội nghị của cụm nhà chung cư được tổ chức khi có tối thiểu 50% số căn hộ của mỗi tòa nhà trong cụm đã được bàn giao cho người mua, thuê mua và có tối thiểu 50% đại diện chủ sở hữu căn hộ của từng tòa nhà đã nhận bàn giao đưa vào sử dụng đồng ý nhập tòa nhà vào cụm nhà chung cư. Trước đó, yêu cầu tỷ lệ đại diện chủ sở hữu căn hộ của từng tòa nhà đã nhận bàn giao đưa vào sử dụng đồng ý nhập tòa nhà vào cụm nhà chung cư cao hơn là 75%.
Điều kiện về số lượng người tham dự cuộc họp hội nghị nhà chung cư lần đầu
Trước đây quy định việc triệu tập họp lần 1 không đạt tỷ lệ tham dự theo quy định sẽ tổ chức triệu tập họp lần 2 với tỷ lệ thấp hơn. Theo quy định mới, việc triệu tập lần 2 đã được lược bỏ, thay vì vậy, nếu triệu tập không đủ thì trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày tổ chức họp hội nghị được ghi trong thông báo mời họp, chủ đầu tư hoặc đại diện chủ sở hữu căn hộ có quyền đưa ra văn bản để đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức hội nghị nhà chung cư.
Như vậy, với những nội dung mới tại Thông tư 06/2019/TT-BXD sẽ góp phần hỗ trợ việc quản lý, sử dụng nhà chung cư trở nên thiết thực hơn, hiệu quả hơn, đồng thời nâng cao tính tự quản, dân chủ của nhà chung cư hơn so với các quy định trước đó. Ngoài ra, những quy định này cũng cho ta thấy sự tiến bộ trong tư duy của cơ quan hành chính nhà nước trong việc khuyến khích và đề cao áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin trong quá trình quản lý, sử dụng, vận hành nhà chung cư làm một nguyên tắc nền tảng.
Ngày 12/11/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82/2019/NĐ-CP quy định về nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng. Theo đó, Nghị định này có quy định cụ thể về đối tượng được phép nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng để phá dỡ; các loại tàu biển đã qua sử dụng được phép nhập khẩu để phá dỡ. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, về đối tượng được phép nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng để phá dỡ: Nghị định quy định rõ doanh nghiệp nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng để phá dỡ phải đáp ứng các điều kiện sau:
Là doanh nghiệp Việt Nam do tổ chức, cá nhân Việt Nam nắm giữ 100% vốn điều lệ;
Là người sở hữu hoặc người quản lý, khai thác cơ sở phá dỡ tàu biển đã được đưa vào hoạt động theo quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng phải mua bảo hiểm và thực hiện các nghĩa vụ về bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường liên quan đến hoạt động nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng theo quy định.
Thứ hai, các loại tàu biển đã qua sử dụng được phép nhập khẩu để phá dỡ: Tàu biển đã qua sử dụng có thân tàu không bằng vật liệu phi kim loại được phép nhập khẩu để phá dỡ, gồm:
Tàu chở hàng khô, gồm: Hàng tổng hợp, hàng rời, hàng thiết bị, gỗ dăm, gỗ cây, ngũ cốc, hàng đóng bao, hàng sắt thép;
Tàu container;
Tàu chở quặng;
Tàu chở hàng lỏng, gồm: Dầu thô, dầu sản phẩm, dầu thực vật;
Tàu chở gas, khí hóa lỏng;
Tàu Ro-Ro, tàu khách, sà lan biển, phà biển.
Trong đó, các loại tàu biển nêu trên phải đáp ứng các điều kiện sau:
+ Chủ tàu có văn bản xác nhận và chịu trách nhiệm về việc cam kết tàu biển không trong tình trạng thế chấp hoặc khiếu nại hàng hải;
+ Không được hoán cải, nâng cấp, chuyển đổi mục đích sử dụng và không được chuyển nhượng, mua, bán lại.
Tàu biển đã qua sử dụng được nhập khẩu để phá dỡ phải được đưa vào cơ sở phá dỡ trong vòng 30 ngày kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan nhưng không vượt quá 90 ngày kể từ ngày tàu đến cảng biển đầu tiên của Việt Nam; thời gian phá dỡ tàu biển không được kéo dài quá 180 ngày kể từ ngày bắt đầu phá dỡ. Việc phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng chỉ được thực hiện tại cơ sở phá dỡ tàu biển đã được đưa vào hoạt động theo quy định.
Nghị định số 82/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 30/12/2019. Nghị định 82 có hiệu lực mở ra hướng đi mới và tháo gỡ khó khăn cho ngành công nghiệp tàu thủy của Việt Nam nói chung và đối với hoạt động kinh doanh phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng nói riêng. Các doanh nghiệp tiến hành nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng phải bảo đảm an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, an toàn lao động, an toàn phòng, chống cháy, nổ; bảo vệ sức khỏe con người và môi trường.
Ngày 08/11/2019, Bộ Công thương đã ban hành Thông tư số 21/2019 quy định quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Hồng Công, Trung Quốc. Thông tư có hiệu lực ngày 23/12/2019.
Theo đó, Thông tư quy định không được phép tẩy xóa hoặc viết thêm lên C/O mẫu AHK mà mọi sửa đổi đều phải thực hiện theo một trong hai cách sau:
Gạch bỏ chỗ sai và bổ sung các thông tin cần thiết. Những thay đổi này phải được người có thẩm quyền ký C/O mẫu AHK chấp thuận và được cơ quan, tổ chức cấp C/O xác nhận. Những phần còn trống phải được gạch chéo để tránh điền thêm;
Cấp C/O mẫu AHK mới thay thế cho C/O cũ.
Trong đó, C/O mẫu AHK được sử dụng để hưởng ưu đãi thuế quan, hàng hóa, bao gồm: 01 bản gốc nộp cho cơ quan hải quan của nước thành viên nhập khẩu và 02 bản sao để nước thành viên xuất khẩu và nhà xuất khẩu lưu. C/O mẫu AHK phải đáp ứng các điều kiện: Là bản giấy; Mang một số tham chiếu riêng của mỗi cơ quan, tổ chức cấp C/O; Được khai bằng tiếng Anh; Có chữ ký của người có thẩm quyền và con dấu của cơ quan, tổ chức cấp C/O. Mẫu chữ ký và con dấu này có thể áp dụng theo hình thức điện tử. Đặc biệt, người khai có có thể khai nhiều hàng hóa đáp ứng quy định về xuất xứ trên cùng 01 C/O mẫu AHK.
Hướng dẫn mới của Thông tư đã tháo gỡ những vướng mắc khi gặp sai sót trong hoạt động kê khai nguồn gốc xuất xứ hàng hóa trong hoạt động xuất nhập khẩu.