Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Sửa đổi, bổ sung một số nội dung hướng dẫn thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm
Trả lời

Ngày 01/11/2019 vừa qua, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 80/2019/NĐ-CP với nội dung sửa đổi, bổ sung một số quy định hướng dẫn thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm.
Theo đó một nội dung quan trọng được bổ sung đó là các quy định về Dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, theo đó kể từ ngày 01/11/2019, các cá nhân, tổ chức tham gia cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại Nghị định nêu trên. Cụ thể:
Đối với cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm: Đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Có bằng đại học trở lên về chuyên ngành bảo hiểm. Nếu không, phải có bằng đại học trở lên chuyên ngành khác và có chứng chỉ về tư vấn bảo hiểm do cơ sở đào tạo được thành lập và hoạt động hợp pháp ở trong và ngoài nước cấp.
Đối với tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm: Có tư cách pháp nhân, được thành lập và hoạt động hợp pháp; Cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động phụ trợ bảo hiểm phải đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có văn bằng, chứng chỉ về phụ trợ bảo hiểm phù hợp với loại hình dịch vụ phụ trợ bảo hiểm thực hiện do cơ sở đào tạo được thành lập và hoạt động hợp pháp ở trong và ngoài nước cấp.
Riêng cá nhân trực tiếp thực hiện giám định tổn thất còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn của giám định viên theo quy định của pháp luật thương mại; cá nhân trực tiếp thực hiện tính toán bảo hiểm phải đáp ứng các tiêu chuẩn về hành nghề tính toán bảo hiểm và có tư cách thành viên của Hội các nhà tính toán bảo hiểm quốc tế.
Như vậy, với việc ban hành Nghị định số 80/2019/NĐ-CP nêu trên, Chính phủ đã kịp thời có những sửa đổi, bổ sung quan trọng góp phần đảm bạo sự tương thích của hệ thống pháp luật trong thời điểm Luật sửa đổi bổ sung Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật sở hữu trí tuệ có hiệu lực.

Trình tự ra quyết định thu hồi giấy phép hoạt động điện lực
Trả lời

Ngày 26/8/2019, Bộ Công thương ban hành Thông tư số 15/2019/TT-BCT sửa đổi Khoản 1 và Khoản 4 Điều 12 của Thông tư số 36/2018/TT-BCT ngày 16 tháng 10 năm 2018 quy định trình tự, thủ tục cấp, thu hồi giấy phép hoạt động điện lực. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 15/10/2019.
Theo đó, Khoản 2 Điều 1 Thông tư 15/2019/TT-BCT quy định trình tự ra quyết định thu hồi giấy phép hoạt động điện lực, cụ thể như sau:
Trường hợp đơn vị điện lực vi phạm Điều 37 Luật Điện lực 2004 và cơ quan ra quyết định xử phạt cũng là cơ quan cấp giấy phép hoạt động điện lực, cơ quan cấp giấy phép hoạt động điện lực có trách nhiệm ra quyết định thu hồi giấy phép hoạt động điện lực đồng thời với quyết định xử phạt;
Trường hợp đơn vị điện lực vi phạm Điều 37 Luật Điện lực 2004 và cơ quan ra quyết định xử phạt không phải là cơ quan cấp giấy phép hoạt động điện lực, cơ quan ra quyết định xử phạt phải thông báo bằng văn bản để cơ quan cấp giấy phép hoạt động điện lực có trách nhiệm ra quyết định thu hồi giấy phép hoạt động điện lực.
Trường hợp không thu hồi giấy phép hoạt động điện lực, cơ quan cấp giấy phép hoạt động điện lực có trách nhiệm trả lời bằng văn bản (nêu rõ lý do) cho cơ quan ra quyết định xử phạt.
Việc quy định cơ quan ra quyết định xử phạt phải thông báo bằng văn bản đến cơ quan cấp giấy phép hoạt động điện lực nhằm tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, tạo sự thống nhất, hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước.

Quy định mới về mức phạt đối với hành vi lấn chiếm đất
Trả lời

Ngày 19/11/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định 91/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thay thế Nghị định 102/2014/NĐ-CP. Nghị định có một số điểm mới về mức xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai. Trong đó, Nghị định quy định cụ thể các trường hợp, mức phạt tương ứng đối với hành vi lấn, chiếm đất đai ở nông thôn và đô thị. Theo đó, đối với hành vi lấn chiếm đất đai có thể bị phạt tới 1 tỷ đồng. Cụ thể như sau:
Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn thì hình thức và mức phạt như sau: Phạt tiền từ 2-3 triệu đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,05 héc ta; phạt tiền từ 3-5 triệu đồng đối với diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta; phạt tiền từ 5-15 triệu đồng đối với diện tích đất từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta; phạt tiền từ 15-30 triệu đồng đối với diện tích đất từ 0,5 đến dưới 1 héc ta; phạt tiền từ 30-70 triệu đồng đối với diện tích đất từ 1 héc ta trở lên.
Trường hợp lấn, chiếm đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất tại khu vực nông thôn thì hình thức và mức xử phạt như sau: Phạt tiền từ 3-5 triệu đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,05 héc ta; phạt tiền từ 5-10 triệu đồng đối với diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta; phạt tiền từ 10-30 triệu đồng đối với diện tích đất từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta; phạt tiền từ 30-50 triệu đồng đối với diện tích đất từ 0,5 đến dưới 1 héc ta; phạt tiền từ 50-120 triệu đồng đối với diện tích đất từ 1 héc ta trở lên.
Trường hợp lấn, chiếm đất nông nghiệp là đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất tại khu vực nông thôn thì hình thức và mức xử phạt như sau: Phạt tiền từ 3-5 triệu đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,02 héc ta; phạt tiền từ 5-7 triệu đồng đối với diện tích đất từ 0,02 héc ta đến dưới 0,05 héc ta; phạt tiền từ 7-15 triệu đồng đối với diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta; phạt tiền từ 15-40 triệu đồng đối với diện tích đất từ 0,1 đến dưới 1 héc ta; phạt tiền từ 40-60 triệu đồng đối với diện tích đất từ 0,5 héc ta đến dưới 1 héc ta; phạt tiền từ 60-150 triệu đồng đối với diện tích đất từ 1 héc ta trở lên.
Trường hợp lấn, chiếm đất phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn thì hình thức và mức xử phạt như sau: Phạt tiền từ 10-20 triệu đồng nếu diện tích đất dưới 0,05 héc ta; phạt tiền từ 20-40 triệu đồng nếu diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta; phạt tiền từ 40-100 triệu đồng nếu diện tích đất từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta; phạt tiền từ 100-200 triệu đồng nếu diện tích đất từ 0,5 đến dưới 1 héc ta; phạt tiền từ 200-500 triệu đồng nếu diện tích đất từ 1 héc ta trở lên.
Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp tại khu vực đô thị thì mức xử phạt bằng 2 lần mức xử phạt đối với loại đất tương ứng quy định nêu trên và mức phạt tối đa không quá 500 triệu đồng đối với cá nhân, không quá 1 tỷ đồng đối với tổ chức.
Nghị định 91/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 05/01/2020. Với nhiều điểm mới bổ sung và tăng nặng các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, Nghị định được kỳ vọng là sẽ đủ sức răn đe, phòng ngừa hành vi vi phạm, “mạnh tay” hơn trong vấn đề xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai.

Nguyên tắc kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh
Trả lời

Ngày 14/01/2019, Chính phủ ban hành Nghị định 85/2019/NĐ-CP quy định thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/01/2020. Theo đó, tại Nghị định này đã đề cập đến nguyên tắc kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh. Nội dung cụ thể như sau:
Áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật chuyên ngành của tổ chức, cá nhân nhằm bảo đảm hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh.
Cơ quan kiểm tra chuyên ngành thực hiện kiểm tra chuyên ngành trên cơ sở tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng áp dụng cho mặt hàng kiểm tra được bộ quản lý ngành, lĩnh vực công bố trên Cổng thông tin một cửa quốc gia.
Tùy theo yêu cầu quản lý, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực có thể chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật thực hiện một số công việc trong kiểm tra chuyên ngành.
Áp dụng miễn, giảm kiểm tra chuyên ngành đối với:
Hàng hóa đã được chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy, công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy, chứng nhận đã áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực theo quy định của bộ quản lý ngành, lĩnh vực;
Hàng hóa đã có kết quả đánh giá sự phù hợp được thừa nhận theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
đ) Hàng hóa được đưa vào Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành trước thông quan, hàng hóa nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành sau thông quan theo quy định của luật chuyên ngành và đáp ứng đủ các yêu cầu sau:
Có tên gọi chi tiết của hàng hóa kèm mã số HS phù hợp với quy định của pháp luật chuyên ngành và Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam;
Có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng áp dụng cho mặt hàng kiểm tra làm cơ sở để kiểm tra hàng hóa;
Có quy định trình tự kiểm tra, thủ tục kiểm tra, thời hạn kiểm tra, cơ quan kiểm tra chuyên ngành, tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định (nếu có).
Hàng hóa đưa vào Danh mục hàng hóa nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành trước thông quan đáp ứng yêu cầu quản lý hàng hóa trong từng thời kỳ và thuộc một trong các khả năng: gây mất an toàn cao, gây lây lan dịch bệnh, gây nguy hại cho sức khỏe, tính mạng con người, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, nguy hại cho kinh tế, cho an ninh quốc gia.
Đối với hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành sau thông quan, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực liên quan tổ chức thực hiện kiểm tra hàng hóa nhập khẩu theo quy định của pháp luật; kết quả kiểm tra được xem xét để điều chỉnh Danh mục hàng hóa nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành trước thông quan và đánh giá mức độ tuân thủ của tổ chức, cá nhân để quyết định hình thức, mức độ khi kiểm tra chuyên ngành.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư liên quan đến quản lý, sử dụng nhà chung cư
Trả lời

Thông tư số 06/2019/TT-BXD (“Thông tư”) do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2020. Nội dung Thông tư nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của “các Thông tư liên quan đến quản lý, sử dụng nhà chung cư do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành”. Theo đó có rất nhiều nội dung mới được sửa đổi, bổ sung. Tuy nhiên bài viết này chỉ tập chung một số điểm nổi bật được sửa đổi bổ sung so với Thông tư số 28/2016/TT-BXD ngày 15/12/2016. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, quy định rõ hơn về định nghĩa Tòa nhà chung cư:
Thông tư số 06/2019/TT-BXD đã có giải thích cụ thể hơn so với Thông tư số 28/2016/TT-BXD về định nghĩa Tòa nhà chung cư, cụ thể: Tòa nhà chung cư là một khối nhà (block) độc lập hoặc nhiều khối nhà “có chung kết cấu xây dựng hoặc chung hệ thống kỹ thuật công trình” được xây dựng theo quy hoạch và hồ sơ dự án do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Thứ hai, quy định liên quan đến Hội nghị nhà chung cư bất thường:
Theo Thông tư số 28/2016/TT-BXD, UBND phường phải có trách nhiệm tổ chức hội nghị nhà chung cư, cụm nhà chung cư bất thường khi Chủ đầu tư đã chấm dứt hoạt động do bị “giải thể, sáp nhập hoặc phá sản”. Tuy nhiên, tại Thông tư số 06/2019/TT-BXD đã loại bỏ trường hợp Chủ đầu tư chấm dứt hoạt động do sáp nhập, theo đó, UBND phường sẽ không phải tổ chức hội nghị nhà chung cư, cụm nhà chung cư bất thường trong trường hợp này.
Thứ ba, Công khai thông tin về đơn vị quản lý vận hành chung cư:
Trước đây, Thông tư số 28/2016/TT-BXD không quy định rõ hoạt động Công khai thông tin về đơn vị quản lý vận hành chung cư có đủ điều Điều kiện về chức năng, năng lực để thực hiện quản lý vận hành nhà chung cư là hoạt động bắt buộc hay tùy nghi, chỉ ghi nhận chung chung là khi đơn vị quản lý vận hành chung cư đủ Điều kiện về chức năng, năng lý lực để thực hiện quản vận hành nhà chung cư thì sẽ tiến hành nộp hồ sơ gửi Sở Xây dựng nơi đơn vị quản lý vận hành đặt trụ sở chính hoặc Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản để xem xét đăng tải thông tin lên Cổng thông tin điện tử của Sở Xây dựng hoặc Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản. Trên cơ sở những thông tin được đăng tải, Hội nghị nhà chung cư sẽ lựa chọn đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng tòa nhà chung cư, cụm nhà chung cư.
Thông tư số 06/2019/TT-BXD đã ghi nhận rõ việc công khai thông tin đơn vị quản lý vận hành chung cư đủ điều kiện chỉ đặt ra khi đơn vị đó có nhu cầu công bố thông tin của mình trên Cổng thông tin điện tử của Sở Xây dựng hoặc Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản.
Như vậy, Thông tư 06/2019/TT-BXD của Bộ xây dựng đã đưa ra những quy định cụ thể và chi tiết hơn so với các quy định tại Thông tư số 28/2016/TT-BXD trước đó, điều này sẽ góp phần hỗ trợ việc quản lý, sử dụng nhà chung cư trở nên thiết thực hơn, hiệu quả hơn, đồng thời nâng cao tính tự quản, dân chủ của nhà chung cư hơn so với các quy định trước đó.

Mức lương tối thiểu vùng của Người lao động được áp dụng từ năm 2020
Trả lời

Ngày 15/11/2019 Chính Phủ ban hành Nghị định 90/2019/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu vùng của Người Lao động, có hiệu lực từ ngày 01/01/2020 thay thế Nghị định 157/2018/NĐ-CP.
Nghị định 90/2019/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp như sau:
Mức 4.420.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I.
Mức 3.920.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II.
Mức 3.430.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III.
Mức 3.070.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV.
Theo đó, Doanh nghiệp hoạt động trên đại bàn vùng nào thì áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định đối với địa bàn đó. Trường hợp doanh nghiệp có đơn vị, chi nhánh hoạt động trên các địa bàn có mức lương tối thiểu vùng khác nhau thì đơn vị, chi nhánh hoạt động ở địa bàn nào, áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định đối với địa bàn đó.
Khi thực hiện mức lương tối thiểu vùng quy định tại Nghị định này, doanh nghiệp không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, làm việc trong điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với các chức danh nghề nặng nhọc, độc hại và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động. Các khoản phụ cấp, bổ sung khác, trợ cấp, tiền thưởng do doanh nghiệp quy định thì thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc trong quy chế của doanh nghiệp.
Mức lương tối thiểu vùng quy định tại Nghị định này là mức thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận và trả lương, trong đó mức lương trả cho người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận phải bảo đảm:
(1) Không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất; (2)Cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc đòi hỏi người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề.
Như vậy, kể từ ngày 01/01/2020, các doanh nghiệp tiến hành rà soát điều chỉnh và xây dựng lại thang bẳng lương mới để phù hợp với quy định pháp luât. Sự thay đỏi mức lương này là cần thiết với sự thay đổi của kinh tế xã hội trong 1 năm qua, tạo điều kiện cho Người lao động có cuộc sống tốt hơn. Nhiều doanh nghiệp hiện tại đang áp dụng mức lương cao hơn mức lương tối thiểu vùng vì vậy việc thay đổi mức lương này cũng không ảnh hưởng quá nhiều đối với doanh nghiệp.

Bản Tin Pháp Luật Số 45/2019
Trả lời

Quy định về hồ sơ vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm
Trả lời

Ngày 23/09/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 74/2019/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 61/2015/NĐ-CP quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 08/11/2019.
Theo đó, Nghị định số 74/2019/NĐ-CP có quy định cụ thể về hồ sơ vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm, cụ thể:
Đối với người lao động: Giấy đề nghị vay vốn có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc cư trú hợp pháp; trường hợp thuộc đối tượng ưu tiên quy định tại Luật việc làm thì thực hiện khai theo Mẫu số 1a và Mẫu số 1b ban hành kèm theo Nghị định này;
Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, hồ sơ vay vốn gồm:
– Dự án vay vốn có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nơi thực hiện dự án theo Mẫu số 2 ban hành kèm theo Nghị định này;
– Bản sao một trong các giấy tờ sau: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã; hợp đồng hợp tác; giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh;
– Giấy tờ chứng minh cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc đối tượng ưu tiên quy định tại  Luật việc làm (nếu có), bao gồm:
+ Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật: Bản sao Quyết định về việc công nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cấp;
+ Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người dân tộc thiểu số: Danh sách lao động là người dân tộc thiểu số, bản sao chứng minh nhân dân hoặc sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú và bản sao hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng của những người lao động trong danh sách;
+ Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật và người dân tộc thiểu số: Danh sách lao động là người khuyết tật và người dân tộc thiểu số, bản sao giấy xác nhận khuyết tật của những người lao động là người khuyết tật do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp, bản sao chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu hoặc sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của những người lao động là người dân tộc thiểu số và bản sao hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng của những người lao động trong danh sách.
Nhìn chung, việc ban hành Nghị định số 74/2019/NĐ-CP thể hiện sự hỗ trợ từ phía Nhà nước tới các cá nhân là người lao động, cơ sở sản xuất, kinh doanh có ý nghĩa thúc đẩy tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm hoặc hỗ trợ người lao động đi làm việc tại nước ngoài.

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính đối với vi phạm quy định về hoạt động ngoại hối
Trả lời

Ngày 14/11/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 31/12/2019 và thay thế Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
Trong đó, quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định về hoạt động ngoại hối như sau:
Phạt cảnh cáo đối với một trong các hành vi: Mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau mà ngoại tệ mua, bán có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); mua, bán ngoại tệ tại tổ chức không được phép thu đổi ngoại tệ mà ngoại tệ mua, bán có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) không đúng quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 20-30 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Không niêm yết tỷ giá mua, bán ngoại tệ tại địa điểm giao dịch theo quy định của pháp luật; niêm yết tỷ giá mua, bán ngoại tệ nhưng hình thức, nội dung niêm yết tỷ giá không rõ ràng, gây nhầm lẫn cho khách hàng; Mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau mà ngoại tệ mua, bán có giá trị từ 10.000 đôla Mỹ đến dưới 100.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); mua, bán ngoại tệ tại tổ chức không được phép thu đổi ngoại tệ mà ngoại tệ mua, bán có giá trị từ 10.000 đôla Mỹ đến dưới 100.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ có giá trị từ 10.000 đôla Mỹ đến dưới 100.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) không đúng quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 10-20 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau mà ngoại tệ mua, bán có giá trị từ 1.000 đôla Mỹ đến dưới 10.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau mà ngoại tệ mua, bán có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần; thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) không đúng quy định của pháp luật trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần; thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ có giá trị từ 1.000 đôla Mỹ đến dưới 10.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) không đúng quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 80-100 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau mà ngoại tệ mua, bán có giá trị từ 100.000 đôla Mỹ trở lên (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); mua, bán ngoại tệ tại tổ chức không được phép thu đổi ngoại tệ mà ngoại tệ mua, bán có giá trị từ 100.000 đôla Mỹ trở lên (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ có giá trị từ 100.000 đôla Mỹ trở lên (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) không đúng quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 30-50 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Ký hợp đồng đại lý đổi ngoại tệ với tổ chức không đủ điều kiện làm đại lý đổi ngoại tệ; không hướng dẫn, kiểm tra đại lý đổi ngoại tệ theo quy định của pháp luật; không thực hiện đúng trách nhiệm của đại lý đổi ngoại tệ theo quy định của pháp luật; làm đại lý đổi ngoại tệ đồng thời cho hai tổ chức tín dụng trở lên không đúng quy định của pháp luật; chuyển, mang ngoại tệ, đồng Việt Nam ra nước ngoài, vào Việt Nam không đúng quy định của pháp luật, trừ các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan;…
Nghị định 88/2019/NĐ-CP ra đời đã khắc phục các vấn đề bất cập của Nghị định 96/2014/NĐ-CP về việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động ngoại hối.

Điều kiện về vốn đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng không
Trả lời

Ngày 15/11/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 89/2019/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 92/2016/NĐ-CP quy định về các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực hàng không dân dụng và Nghị định 30/2013/NĐ-CP về kinh doanh vận chuyển hàng không và hoạt động hàng không chung. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2019.
Theo đó, Nghị định số 89/2019/NĐ-CP có quy định điều kiện về vốn đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng không như sau:
Mức vốn tối thiểu (bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay) để thành lập và duy trì doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển hàng không:
Khai thác đến 10 tàu bay: 300 tỷ đồng Việt Nam;
Khai thác từ 11 đến 30 tàu bay: 600 tỷ đồng Việt Nam;
Khai thác trên 30 tàu bay: 700 tỷ đồng Việt Nam.
Mức vốn tối thiểu để thành lập và duy trì doanh nghiệp kinh doanh hàng không chung: 100 tỷ đồng Việt Nam.
Doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng không có vốn đầu tư nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện:
Nhà đầu tư nước ngoài chiếm không quá 34% vốn điều lệ;
Phải có ít nhất một cá nhân Việt Nam hoặc một pháp nhân Việt Nam giữ phần vốn điều lệ lớn nhất;
Trường hợp pháp nhân Việt Nam có vốn đầu tư nước ngoài góp vốn thì phần vốn góp nước ngoài chiếm không quá 49% vốn điều lệ của pháp nhân.
Có thể nhận thấy, Nghị định 89/2019/NĐ-CP được ban hành đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng không trong việc đáp ứng các yêu cầu về vốn. Qua đó, tăng cường tính cạnh tranh và mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp có dự định kinh doanh ngành nghề này trong tương lại.