Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính đối với vi phạm quy định về hoạt động ngoại hối
Trả lời

Ngày 14/11/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 31/12/2019 và thay thế Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
Trong đó, quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định về hoạt động ngoại hối như sau:
Phạt cảnh cáo đối với một trong các hành vi: Mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau mà ngoại tệ mua, bán có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); mua, bán ngoại tệ tại tổ chức không được phép thu đổi ngoại tệ mà ngoại tệ mua, bán có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) không đúng quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 20-30 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Không niêm yết tỷ giá mua, bán ngoại tệ tại địa điểm giao dịch theo quy định của pháp luật; niêm yết tỷ giá mua, bán ngoại tệ nhưng hình thức, nội dung niêm yết tỷ giá không rõ ràng, gây nhầm lẫn cho khách hàng; Mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau mà ngoại tệ mua, bán có giá trị từ 10.000 đôla Mỹ đến dưới 100.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); mua, bán ngoại tệ tại tổ chức không được phép thu đổi ngoại tệ mà ngoại tệ mua, bán có giá trị từ 10.000 đôla Mỹ đến dưới 100.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ có giá trị từ 10.000 đôla Mỹ đến dưới 100.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) không đúng quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 10-20 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau mà ngoại tệ mua, bán có giá trị từ 1.000 đôla Mỹ đến dưới 10.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau mà ngoại tệ mua, bán có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần; thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) không đúng quy định của pháp luật trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần; thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ có giá trị từ 1.000 đôla Mỹ đến dưới 10.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) không đúng quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 80-100 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau mà ngoại tệ mua, bán có giá trị từ 100.000 đôla Mỹ trở lên (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); mua, bán ngoại tệ tại tổ chức không được phép thu đổi ngoại tệ mà ngoại tệ mua, bán có giá trị từ 100.000 đôla Mỹ trở lên (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ có giá trị từ 100.000 đôla Mỹ trở lên (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) không đúng quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 30-50 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Ký hợp đồng đại lý đổi ngoại tệ với tổ chức không đủ điều kiện làm đại lý đổi ngoại tệ; không hướng dẫn, kiểm tra đại lý đổi ngoại tệ theo quy định của pháp luật; không thực hiện đúng trách nhiệm của đại lý đổi ngoại tệ theo quy định của pháp luật; làm đại lý đổi ngoại tệ đồng thời cho hai tổ chức tín dụng trở lên không đúng quy định của pháp luật; chuyển, mang ngoại tệ, đồng Việt Nam ra nước ngoài, vào Việt Nam không đúng quy định của pháp luật, trừ các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan;…
Nghị định 88/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động ngoại hối, theo hướng quy định cụ thể hơn và khắc phục những bất cập tại nghị định 96/2014/NĐ-CP.

Xử lý trường hợp tổ chức tín dụng không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền mua tín phiếu NHNN
Trả lời

Ngày 22/10/2019, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam ban hành Thông tư số 16/2019/TT-NHNN quy định về phát hành tín phiếu NHNN. Theo đó, Thông tư đã quy định chi tiết về phương thức xử lý đối với các trưởng hợp tổ chức tín dụng không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền mua tín phiếu NHNN.
Việc phát hành tín phiếu NHNN theo phương thức đấu thầu được thực hiện theo quy định của NHNN về đấu thầu qua nghiệp vụ thị trường mở. Tương ứng, các tổ chức tín dụng phải thực hiện mua tín phiếu này theo quyết định của Thống đốc NHNN và phải chuyển tiền mua vào tài khoản theo chỉ định của NHNN trong ngày thanh toán tín phiếu.
Khi tổ chức tín dụng không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền mua tín phiếu bắt buộc, đến cuối ngày thanh toán, NHNN (Sở Giao dịch, NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) sẽ thực hiện tự động trích tài khoản thanh toán của tổ chức tín dụng tại NHNN cho đến khi thu hồi đủ số tiền mua tín phiếu và thông báo bằng văn bản cho tổ chức tín dụng biết.
Trường hợp tài khoản thanh toán của tổ chức tín dụng tại NHNN không đủ thanh toán số tiền mua tín phiếu còn thiếu, tổ chức tín dụng phải chịu phạt chậm thanh toán đối với số tiền mua còn thiếu theo mức lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng. Số tiền phạt chậm thanh toán của từng ngày theo quy định. Trong 5 ngày làm việc liền kề tiếp theo kể từ ngày thanh toán, hằng ngày NHNN tự động trích nợ tài khoản thanh toán của tổ chức tín dụng tại NHNN cho đến khi thu hồi đủ số tiền mua tín phiếu còn thiếu và số tiền phạt chậm thanh toán chưa được thanh toán; thu số tiền mua tín phiếu còn thiếu trước, thu số tiền phạt chậm thanh toán sau.
Hết thời hạn trích nợ tài khoản thanh toán quy định: (i) Tổ chức tín dụng không thanh toán đủ số tiền mua tín phiếu NHNN bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng; (ii) NHNN (Sở Giao dịch, NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) thực hiện: hủy phần tín phiếu NHNN chưa được thanh toán tính theo mệnh giá và được làm tròn lên theo bội số của mệnh giá tín phiếu NHNN; dừng tính số tiền phạt chậm thanh toán; đồng thời, tiếp tục tự động trích nợ tài khoản thanh toán hoặc thực hiện thu từ các nguồn khác (nếu có) của tổ chức tín dụng để thu đủ số tiền phạt chậm thanh toán;
Thông tư này nhằm thay thế Quyết định số 362/1999/QĐ-NHNN1 ngày 8/10/1999 về việc ban hành quy chế phát hành tín phiếu NHNN. Đồng thời, bãi bỏ quy định tại khoản 2 Điều 13 Thông tư số 24/2014/TT-NHNN ngày 06/9/2014 hướng dẫn một số nội dung về hoạt động bảo hiểm tiền gửi.
Việc ban hành Thông tư số 16/2019/TT-NHNN đã tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng, ràng buộc các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ thanh toán tín phiếu NHNN.

Điểm mới đang chú ý trong Bộ luật lao động 2019
Trả lời

Ngày 20/11/2019, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật lao động số 45/2019/QH14. Bộ luật này có hiệu lực từ 01/01/2021 thay thế cho Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13. Theo đó, Bộ luật lao động 2019 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021.
Bộ luật lao động năm 2019 có một số điểm mới đáng chú ý như sau: 
1. Mở rộng phạm vi và đối tượng điều chỉnh
Nếu như Bộ luật Lao động 2012 quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động… trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động thì Bộ luật Lao động 2019 mở rộng thêm đối tượng là người làm việc không có quan hệ lao động cùng một số tiêu chuẩn riêng. 
2. Tăng tuổi nghỉ hưu lên 62 tuổi với nam, 60 tuổi với nữ
Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.
Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với nam; đủ 55 tuổi 04 tháng đối với nữ. Sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng với lao động nam; 04 tháng với lao động nữ.
Riêng người bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hay làm việc ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thì có thể nghỉ hưu trước không quá 05 tuổi.
So với hiện nay theo Bộ luật Lao động 2012 thì tuổi nghỉ hưu của người lao động đã tăng lên đáng kể; đồng thời, với những công việc đặc thù thì việc nghỉ hưu trước tuổi cũng được quy định ràng hơn.
3. Tăng nghỉ lễ Quốc khánh được lên 2 ngày
Bên cạnh việc tăng tuổi nghỉ hưu, đáng chú ý, Điều 112 Bộ luật Lao động sửa đổi còn bổ sung thêm 01 ngày nghỉ trong năm vào ngày liền kề với ngày Quốc khánh, có thể là 01/9 hoặc 03/9 Dương lịch tùy theo từng năm. Người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương.
4. Xóa bỏ hợp đồng lao động theo mùa vụ
Điều 20 Bộ luật Lao động sửa đổi đã bỏ nội dung về hợp đồng mùa vụ hoặc theo một công việc có thời hạn dưới 12 tháng, thay vào đó chỉ còn 02 loại hợp đồng là: Hợp đồng lao động không xác định thời hạn và Hợp đồng lao động xác định thời hạn.
Quy định này được đánh giá là tiến bộ lớn của pháp luật lao động nhằm bảo vệ người lao động, hạn chế tình trạng người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động bằng cách ký các loại hợp đồng mùa vụ, dịch vụ…
5. Ghi nhận hình thức hợp đồng lao động điện tử
Xuất phát từ thực tiễn, với sự phát triển của khoa học công nghệ thì việc giao kết hợp đồng lao động không đơn thuần chỉ bằng văn bản, lời nói hay hành vi. Chính vì vậy, Điều 14 Bộ luật Lao động mới đã ghi nhận thêm hình thức giao kết hợp đồng lao động thông qua phương tiện điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.
Ngoài ra, với những trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì vẫn được coi là hợp đồng lao động.
6. Người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần lý do 
Nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập từ việc áp dụng các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động, Điều 35 Bộ luật Lao động 2019 cho phép người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần lý do mà chỉ cần báo trước 30 ngày với hợp đồng xác định thời hạn và 45 ngày với hợp đồng không xác định thời hạn.
Những điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019 được đánh giá là bổ sung nhiều quy định pháp luật nhằm bảo vệ và gia tăng thêm các quyền lợi của người lao động, là sự thể chế hóa, quan điểm, đường lối của Đảng về việc kiến tạo khung pháp luật về lao động nhằm phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để nâng cao năng lực cạnh tranh lao động quốc gia.

Yêu cầu đối với dự án đầu tư sản xuất vật liệu xây dựng
Trả lời

Ngày 16/12/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 95/2019/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24A/2016/NĐ-CP ngày 05/04/2016 của Chính phủ về quản lý vật liệu xây dựng. Theo đó, Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 10/02/2020.
Liên quan đến yêu cầu đối với dự án đầu tư sản xuất vật liệu xây dựng, khoản 5 Điều 1 Nghị định 95/2019/NĐ-CP có quy định các điều kiện như sau:
Thứ nhất, Dự án phải phù hợp với quy hoạch theo quy định pháp luật về quy hoạch và tuân thủ các quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng.
Thứ hai, Dự án chủ yếu phải lựa chọn công nghệ thiết bị tiên tiến, hiện đại đáp ứng các tiêu chí về tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng, đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường và được thẩm định công nghệ theo quy định pháp luật về chuyển giao công nghệ.
Ngoài ra, Nghị định 95/2019/NĐ-CP đã loại bỏ nội dung về việc cơ quan đăng ký đầu tư phải lấy ý kiến tham vấn của Bộ Xây dựng trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án đầu tư sản xuất vật liệu xây dựng chủ yếu.
Tóm lại, việc ban hành Nghị định 95/2019/NĐ-CP, điều chỉnh về nội dung yêu cầu đối với dự án đầu tư sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng quy định cụ thể hơn và nới lỏng hơn, đã cho thấy sự khuyến khích đầu tư từ phía Nhà nước trong việc đầu tư vào hoạt động động sản xuất vật liệu xây dựng.

Hồ sơ thanh quyết toán, thủ tục hỗ trợ giá cho doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt thực hiện vận tải phục vụ nhiệm vụ đặc biệt, nhiệm vụ an sinh xã hội.
Trả lời

Ngày 17/12/2019, Bộ Giao thông Vận tải ban hành Thông tư 49/2019/TT-BGTVT về việc hướng dẫn quy trình, hồ sơ thanh quyết toán, thủ tục hỗ trợ giá cho doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt thực hiện vận tải phục vụ nhiệm vụ đặc biệt, nhiệm vụ an sinh xã hội. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/02/2020.
Theo khoản 2 Điều 3, Hồ sơ thanh quyết toán chi phí trên bao gồm: Thuyết minh hồ sơ quyết toán; Biểu tổng hợp quyết toán hỗ trợ giá theo từng chuyến tàu; Biểu tổng hợp quyết toán doanh thu theo từng chuyến tàu; Biểu tổng hợp quyết toán chi phí theo từng chuyến tàu; Bản sao các tài liệu liên quan.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc quý, doanh nghiệp kinh doanh vận tải dường sắt nộp một bộ hồ sơ thanh quyết toán chi phí thực hiện vận tải phục vụ nhiệm vụ an sinh xã hội.
Hồ sơ được gửi trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính đến Cục Đường sắt Việt Nam. Trong trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì Cục Đường sắt có văn bản yêu cầu bổ sung hồ sơ trong 03 ngày làm việc, từ khi nhận được hồ sơ. Việc xét duyệt quyết toán chi phí được thực hiện trong 15 ngày, từ nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Sự ra đời của Thông tư 49/2019/TT-BGTVT là căn cứ để cho các doanh nghiệp nắm bắt và thực hiện nộp hồ sơ thanh quyết toán, thủ tục hỗ trợ giá khi thực hiện nhiệm vụ vận tải đặc biệt, nhiệm vụ an sinh xã hội, là cơ sở để theo dõi, giám sát việc thực hiện quy trình, qua đó tạo ra sự công khai và minh bạch trong hoạt động hành chính của cơ quan nhà nước.

Bản Tin Pháp Luật Số 48/2019
Trả lời

Hướng dẫn ký số, ký điện tử trên hóa đơn điện tử.
Trả lời

Ngày 30/09/2019, Bộ tài chính ban hành Thông tư 68/2019/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 119/2018/NĐ-CP quy định về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.
Theo đó, tại điểm đ, khoản 1, Điều 3, chữ ký số (CKS), chữ ký điện tử của người bán và người mua trên hóa đơn điện tử được quy định như sau:
– Trường hợp người bán là doanh nghiệp, tổ chức thì CKS của người bán trên hóa đơn là CKS của doanh nghiệp, tổ chức; trường hợp người bán là cá nhân thì sử dụng CKS của cá nhân hoặc người được ủy quyền.
– Trường hợp người mua là cơ sở kinh doanh và người mua, người bán có thỏa thuận về việc người mua đáp ứng các điều kiện kỹ thuật để ký số, ký điện tử trên hóa đơn điện tử do người bán lập thì người mua ký số, ký điện tử trên hóa đơn.
– Trường hợp hóa đơn điện tử không nhất thiết phải có CKS, chữ ký điện tử của người bán và người mua thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 của Thông tư này.
Thông tư 68/2019/TT-BTC có hiệu lực kể từ ngày 14/11/2019.

Trình tự và thủ tục cấp Giấy phép văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài
Trả lời

Ngày 02/12/2019, Ngân hàng nhà nước (NHNN) Việt Nam ban hành Thông tư số 25/2019/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2011/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về việc cấp phép và tổ chức, hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.
Theo đó, Thông tư đã bổ sung quy định về thẩm quyền của Giám đốc NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cụ thể: “Cấp Giấy phép, sửa đổi, bổ sung Giấy phép đối với văn phòng đại diện.” (Điểm b Khoản 2 Điều 1). Pháp luật hiện hành mới chỉ quy định thẩm quyền cấp giấy phép của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Đồng thời, cũng sửa đổi trình tự và thủ tục cấp Giấy phép thành lập văn phòng đại diện như sau:
– Tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng lập hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép theo quy định tại Điều 13, Điều 18 Thông tư 40/2011/TT-NHNN và nộp trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính đến NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là NHNN chi nhánh) nơi văn phòng đại diện dự kiến đặt trụ sở.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép, NHNN chi nhánh có văn bản gửi tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài có hoạt động ngân hàng xác nhận đã nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép không đầy đủ, hợp lệ theo quy định, NHNN chi nhánh có văn bản gửi tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng yêu cầu bổ sung hồ sơ.
– Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày gửi văn bản xác nhận đã nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ, NHNN chi nhánh tiến hành cấp Giấy phép theo quy định. Trường hợp không cấp Giấy phép, NHNN chi nhánh có văn bản trả lời tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng, trong đó nêu rõ lý do không cấp Giấy phép.
Theo quy định hiện hành, chủ thể tiếp nhận, giải quyết hồ sơ và tiến hành cấp Giấy phép là NHNN.
Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 40/2011/TT-NHNN tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng cho các tổ chức tín dụng nước ngoài, tăng cường vai trò, trách nhiệm của NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong quản lý nhà nước.

Điều kiện cấp phép thành lập quỹ xã hội, quỹ từ thiện
Trả lời

Ngày 25/11/2019, Chính phủ ban hành Nghị định 93/2019/NĐ-CP về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/01/2020.
Quỹ là tổ chức phi chính phủ do cá nhân, tổ chức tự nguyện góp một phần tài sản nhất định để thành lập hoặc thành lập thông qua di chúc, hiến, tặng tài sản thành lập quỹ, có mục đích tổ chức, hoạt động, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và công nhận điều lệ.
Theo đó, điều kiện cấp phép thành lập quỹ bao gồm:
1. Có mục đích hoạt động: Quỹ được tổ chức và hoạt động nhằm mục đích hỗ trợ, khuyến khích phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, khoa học, công nghệ, cộng đồng và từ thiện, nhân đạo, không vì mục tiêu lợi nhuận.
2. Có sáng lập viên thành lập quỹ bảo đảm quy định như sau:
Sáng lập viên thành lập quỹ phải là công dân, tổ chức Việt Nam;
Đối với công dân: Có đủ năng lực hành vi dân sự và không có án tích;
Đối với tổ chức: Được thành lập hợp pháp, có điều lệ hoặc văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ của tổ chức; có nghị quyết của tập thể lãnh đạo hoặc quyết định của người đứng đầu có thẩm quyền về việc tham gia thành lập quỹ; quyết định cử người đại diện của tổ chức tham gia tư cách sáng lập viên thành lập quỹ; trường hợp tổ chức Việt Nam có vốn đầu tư nước ngoài thì người đại diện tổ chức làm sáng lập viên thành lập quỹ phải là công dân Việt Nam;
Đóng góp tài sản hợp pháp thành lập quỹ:
Tiền đồng Việt Nam;
Tài sản được quy đổi ra tiền đồng Việt Nam (bao gồm: Hiện vật, ngoại tệ, giấy tờ có giá, các quyền tài sản khác). Đối với tài sản là trụ sở, trang thiết bị, công nghệ phải do tổ chức thẩm định giá được thành lập hợp pháp định giá, thời điểm định giá tài sản không quá 06 tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ thành lập quỹ;
Trường hợp tài sản đóng góp thành lập quỹ bao gồm cả tài sản khác không bao gồm tiền đồng Việt Nam thì số tiền đồng Việt Nam phải đảm bảo tối thiểu 50% tổng giá trị tài sản.
Sáng lập viên thành lập quỹ nếu thuộc diện quản lý của cơ quan có thẩm quyền thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ trước khi gửi hồ sơ về cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và công nhận điều lệ quỹ.
3. Ban sáng lập quỹ có đủ số tài sản đóng góp để thành lập quỹ
4. Hồ sơ thành lập quỹ đảm bảo theo quy định.
Nghị định này quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước về quỹ xã hội, quỹ từ thiện được thành lập và hoạt động tại Việt Nam.

Hướng dẫn mới về đăng ký thế chấp khi có thay đổi thông tin bên thế chấp, tài sản thế chấp
Trả lời

Ngày 25/11/2019, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 07/2019/TT-BTP hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Thông tư có một số điểm mới nổi bật so với Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, so với quy định hiện hành, Thông tư số 07/2019/TT-BTP bổ sung thêm 01 trường hợp đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất. Đó là trường hợp đăng ký thế chấp dự án đầu tư xây dựng nhà ở, dự án đầu tư xây dựng công trình xây dựng không phải là nhà ở, dự án đầu tư xây dựng khác theo quy định của pháp luật. Theo đó, các trường hợp đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất bao gồm:
Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất;
Đăng ký thế chấp tài sản gắn liền với đất;
Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất đồng thời với tài sản gắn liền với đất;
Đăng ký thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai;
Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất đồng thời với tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai;
Đăng ký thế chấp dự án đầu tư xây dựng nhà ở, dự án đầu tư xây dựng công trình xây dựng không phải là nhà ở, dự án đầu tư xây dựng khác theo quy định của pháp luật;
Đăng ký thay đổi nội dung thế chấp đã đăng ký;
Đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp đã đăng ký thế chấp;
Xóa đăng ký thế chấp.
Thứ hai, theo quy định tại Điều 13 của Thông tư số 07/2019/TT-BTP, trong các trường hợp sau đây, người yêu cầu thế chấp sẽ thực hiện đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất hoặc xác nhận thay đổi trước khi thực hiện việc đăng ký thế chấp:
Thông tin về số hiệu thửa đất, diện tích thửa đất không phù hợp với thông tin trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (“Giấy chứng nhận”) do dồn điền, đổi thửa, đo đạc, xác định lại diện tích, kích thước thửa đất;
Thông tin về tài sản gắn liền với đất như loại nhà, tên tòa nhà, số tầng, diện tích xây dựng, sử dụng … đã được công nhận trên Giấy chứng nhận không còn phù hợp do đo đạc, xác định lại diện tích, do xây dựng, sửa chữa;
Đặc biệt: Văn phòng đăng ký đất đai có thể thực hiện đồng thời hai thủ tục trên khi:
Có thay đổi thông tin về bên thế chấp trên Giấy chứng nhận;
Thay đổi thông tin về đơn vị hành chính hoặc thông tin khác liên quan đến tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất do có quyết định, văn bản của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Thông tư số 07/2019/TT-BTP có hiệu lực thi hành từ ngày 10/01/2020 và thay thế Thông tư liên tịch 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT. Thông tư số 07/2019/TT-BTP có hiệu lực sẽ góp phần giải quyết một số vướng mắc trên thực tiễn về trường hợp đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến việc đăng ký thế chấp.