Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Sửa đổi, bổ sung giá mua bán điện của dự án điện mặt trời mái nhà
Trả lời

Ngày 11 tháng 3 năm 2019 Bộ Công thương ban hành Thông tư số 05/2019/TT-BCT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 16/2017/TT-BCT ngày 12 tháng 9 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công thương quy định về phát triển dự án và hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các dự án điện mặt trời. Thông tư có hiệu lực từ ngày 25/04/2019.
Theo đó, Thông tư số 05/2019/TT-BCT sửa đổi, bổ sung về giá bán điện của dự án điện mặt trời mái nhà như sau:
Trước ngày 01 tháng 01 năm 2018, giá mua bán điện là 2.086 đồng/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, tương đương với 9,35 UScents/kWh, theo tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam với đô la Mỹ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố ngày 10 tháng 4 năm 2017 là 22.316 đồng/USD);
Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, giá mua bán điện áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều này được điều chỉnh theo tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam so với đô la Mỹ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố vào ngày công bố tỷ giá cuối cùng của năm trước.
Như vậy, việc sửa đổi, bổ sung giá mua bán điện của dự án điện mặt trời theo thông tư mới phù hợp hơn với xu thế tăng trưởng của nền kinh tế và nhu cầu sử dụng của người dân.

Bản Tin Pháp Luật Số 50/2019
Trả lời

Các hành vi nghiêm cấm trong phòng, chống tác hại của rượu, bia
Trả lời

Ngày 04/06/2019, Quốc hội Việt Nam thông qua Luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019. Theo đó, Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2020.
Căn cứ Điều 5 Luật này có quy định về các hành vi nghiêm cấm trong phòng, chống tác hại của rượu, bia. Trong đó, có Luật này quy định cụ thể 12 hành vi bị nghiêm cấm và 01 quy định dẫn chiếu, cụ thể
1. Xúi giục, kích động, lôi kéo, ép buộc người khác uống rượu, bia.
2. Người chưa đủ 18 tuổi uống rượu, bia.
3. Bán, cung cấp, khuyến mại rượu, bia cho người chưa đủ 18 tuổi.
4. Sử dụng lao động là người chưa đủ 18 tuổi trực tiếp tham gia vào việc sản xuất, mua bán rượu, bia.
5. Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan, tổ chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ, người làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân, học sinh, sinh viên uống rượu, bia ngay trước, trong giờ làm việc, học tập và nghỉ giữa giờ làm việc, học tập.
6. Điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.
7. Quảng cáo rượu có độ cồn từ 15 độ trở lên.
8. Cung cấp thông tin không chính xác, sai sự thật về ảnh hưởng của rượu, bia đối với sức khỏe.
9. Khuyến mại trong hoạt động kinh doanh rượu, bia có độ cồn từ 15 độ trở lên; sử dụng rượu, bia có độ cồn từ 15 độ trở lên để khuyến mại dưới mọi hình thức.
10. Sử dụng nguyên liệu, phụ gia, chất hỗ trợ chế biến không được phép dùng trong thực phẩm; nguyên liệu, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm không bảo đảm chất lượng và không rõ nguồn gốc, xuất xứ để sản xuất, pha chế rượu, bia.
11. Kinh doanh rượu không có giấy phép hoặc không đăng ký; bán rượu, bia bằng máy bán hàng tự động.
12. Kinh doanh, tàng trữ, vận chuyển rượu, bia giả, nhập lậu, không bảo đảm chất lượng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, nhập lậu rượu, bia.
13. Các hành vi bị nghiêm cấm khác liên quan đến rượu, bia do luật định
Việc ban hành Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia là cần thiết trong bối cảnh lạm dụng rượu, bia như hiện nay, đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tác hại của việc, cũng như là cơ sở pháp lý cho hoạt động xử lý đối với hành vi lạm dụng rượu bia.

Tạm ngừng kinh doanh chuyển khẩu, kinh doanh tạm nhập gỗ dán vào Việt Nam để tái xuất sang Hoa Kỳ.
Trả lời

Ngày 12/11/2019, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 22/2019/TT-BCT quy định về việc tạm ngừng kinh doanh chuyển khẩu, kinh doanh tạm nhập gỗ dán vào Việt Nam để tái xuất sang Hoa Kỳ. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 27/12/2019.
Theo đó, Thông tư số 22/2019/TT-BCT quy định hoạt động kinh doanh chuyển khẩu, hoạt động kinh doanh tạm nhập vào Việt Nam để tái xuất sang Hoa Kỳ đối với mặt hàng gỗ dán thuộc nhóm HS 44.12 theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư số 65/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính sẽ tạm ngừng thực hiện từ ngày 27/12/2019.
Riêng đối với những lô hàng gỗ dán đã làm thủ tục hải quan tạm nhập, chuyển khẩu trước ngày Thông tư này có hiệu lực (tức ngày 27/12/2019), sẽ được tiếp tục thực hiện tái xuất, chuyển khẩu theo quy định của Nghị định số 69/2018/NĐ-CP  của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương và các quy định hiện hành.
Thông tư số 22/2019/TT-BCT được ban hành để áp dụng đối với các thương nhân tham gia hoạt động kinh doanh chuyển khẩu, kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa. Các tổ chức, cơ quan quản lý hoạt động kinh doanh chuyển khẩu, kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa. Và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kinh doanh chuyển khẩu, kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa.
Trong trường hợp hàng hóa của các nước chuyển khẩu, tạm nhập vào Việt Nam có chất lượng không tốt, hoặc nguồn gốc không rõ ràng tái xuất sang thị trường Mỹ sẽ ảnh hưởng nghiêm trong đến các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh gỗ dán xuất khẩu sang Mỹ. Qua đó, Thông tư này ban hành nhằm mục đích nâng cao và siết chặt công tác quản lý đối với mặt hàng gỗ dán, nhằm ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại về xuất xứ hàng hóa. Đồng thời, giúp nâng cao chất lượng và uy tín của doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh gỗ dán tại thị trường Mỹ cũng như các quốc gia khác.
Việc áp dụng quy định tại Thông tư này sẽ chính thức thực hiện từ ngày 27/12/2019 và kết thúc ngày 31/12/2024.

Quy định mới về giấy chứng nhận lưu hành tự do mỹ phẩm
Trả lời

Ngày 16/12/2019, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 32/2019/TT-BYT sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 4 và Phụ lục số 01-MP Thông tư số 06/2011/TT-BYT ngày 25/01/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về quản lý mỹ phẩm. Theo đó, về giấy chứng nhận lưu hành tự do mỹ phẩm, Thông tư số 32/2019/TT-BYT có một số điểm mới so với Thông tư số 06/2011/TT-BYT. Cụ thể như sau:
Tại khoản 4 Điều 4 Thông tư 06/2011/TT-BYT, giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS) chỉ áp dụng với trường hợp công bố sản phẩm mỹ phẩm nhập khẩu và đáp ứng 02 yêu cầu:
CFS do nước sở tại cấp là bản chính hoặc bản sao có chứng thực hợp lệ, còn hạn; nếu có thời hạn thì phải được cấp trong vòng 24 tháng kể từ ngày cấp;
CFS phải được hợp pháp hoá lãnh sự, trừ trường hợp được miễn theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Trong khi đó, tại Thông tư 32, CFS công bố sản phẩm mỹ phẩm nhập khẩu từ các nước không phải là thành viên của Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định CPTPP) ngoài 02 yêu cầu trên còn phải có tối thiểu các thông tin:
Tên cơ quan, tổ chức cấp CFS;
Số, ngày cấp CFS;
Tên sản phẩm, hàng hóa được cấp CFS;
Loại hoặc nhóm sản phẩm, hàng hóa được cấp CFS;
Tên và địa chỉ của nhà sản xuất;
Trên CFS phải ghi rõ là sản phẩm, hàng hóa được sản xuất và được phép bán tự do tại thị trường của nước sản xuất hoặc nước cấp CFS;
Họ tên, chữ ký của người ký CFS và dấu của cơ quan, tổ chức cấp CFS.
Đồng thời, Thông tư cũng bổ sung thêm trường hợp nếu công bố sản phẩm mỹ phẩm được lưu hành và xuất khẩu từ các nước thành viên Hiệp định CPTPP thì không cần phải có CFS.
Lưu ý: Đối với hồ sơ công bố sản phẩm mỹ phẩm nhập khẩu từ các nước thành viên Hiệp định CPTPP nộp từ ngày 14/01/2019 được thực hiện theo quy định nêu trên. Đối với hồ sơ công bố sản phẩm mỹ phẩm có kèm theo mẫu quy định tại Phụ lục số 01-MP Thông tư số 06/2011/TT-BYT nộp trước ngày Thông tư này có hiệu lực thì thực hiện theo Thông tư số 06/2011/TT-BYT, trừ trường hợp cơ sở đề nghị thực hiện theo quy định tại Thông tư này.
Thông tư số 32/2019/TT-BYT có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2020. Việc quy định cụ thể về nội dung, hình thức, các trường hợp áp dụng CFS tại Thông tư này góp phần tạo lên sự thống nhất trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến việc công bố sản phẩm mỹ phẩm đối với các cơ quan quản lý nhà nước về mỹ phẩm, các tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động liên quan đến công bố sản phẩm mỹ phẩm.

Các hành vi xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kho bạc nhà nước
Trả lời

Ngày 19/12/2019 Bộ Tài chính ban hành thông tư số 87/2019/TT-BTC Thông tư hướng dẫn thực hiện xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kho bạc nhà nước. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/02/2020.
Thông tư này hướng dẫn về các hành vi vi phạm hành chính, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực kho bạc nhà nước quy định tại Nghị định số 63/2019/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước (sau đây gọi là Nghị định số 63/2019/NĐ-CP).
Tại Thông tư này quy định về các hành vi bị xử phạt hành chính trong lĩnh vực kho bạc nhà nước như sau:
Hành vi vi phạm quy định khoản chi ngân sách nhà nước phải có trong dự toán ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền giao;
Hành vi lập hồ sơ, chứng từ sai chế độ quy định và hành vi lập hồ sơ, chứng từ sai so với hồ sơ, chứng từ gốc tại đơn vị, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
Hành vi lập hồ sơ, chứng từ giả mạo để chi ngân sách nhà nước, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
Hành vi vi phạm chế độ thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước;
Hành vi vi phạm thủ tục kiểm soát cam kết chi;
Hành vi vi phạm thủ tục, thời hạn thanh toán tạm ứng ngân sách nhà nước;
Hành vi vi phạm quy định về đăng ký và sử dụng tài khoản tại Kho bạc Nhà nước;
Hành vi lập hồ sơ, giấy tờ giả mạo để làm thủ tục đăng ký và sử dụng tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Mỗi hành vi vi phạm sẽ có từng chế tài xử phạt hành chính khác nhau. Thông tư giúp cho các đối tượng như : Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kho bạc nhà nước; Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kho bạc nhà nước; Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực kho bạc nhà nước; Tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kho bạc nhà nước có thể dễ dàng theo dõi cũng như thực hiện.

Mức lương của người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố kể từ năm 2020
Trả lời

Ngày 06/11/2019, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 13/2019/TT-BNV hướng dẫn một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 25/12/2019.
Trước đó, tại khoản 6, Điều 2 Nghị định 34/2019/NĐ-CP ngày 24/04/2019 có quy định về người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố có không quá 03 người được hưởng phụ cấp hàng tháng từ ngân sách nhà nước và chỉ áp dụng đối với các chức danh, cụ thể là: Bí thư Chi bộ; Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng Tổ dân phố; Trưởng Ban công tác mặt trận.
Trên cơ sở đó, tại Điều 13 Thông tư 13/2019/TT-BNV tiếp tục hướng dẫn về mức lương đối với các cán bộ hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố với nội dung: Ngân sách nhà nước thực hiện khoán quỹ phụ cấp bằng 3,0 lần mức lương cơ sở để chi trả hàng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở mỗi thôn, tổ dân phố. Riêng đối với các thôn sau đây được khoán quỹ phụ cấp bằng 5,0 lần mức lương cơ sở:
Thôn có từ 350 hộ gia đình trở lên;
Thôn thuộc xã trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
Thôn thuộc xã biên giới hoặc hải đảo.
Mức lương cơ sở hiện tại của cán bộ, công chức là 1.490.000 đồng theo Nghị định 38/2019/NĐ-CP. Trên tinh thần Nghị quyết 86/2019/QH14 về dự toán Ngân sách nhà nước năm 2020, thì mức lương trên, tính từ ngày 01/07/2020, sẽ là 1.600.000 đồng. Vì vậy, có thể hình dung, mức lương của người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố:
Đến hết tháng 06/2020:
1.490.000*3=4.470.000 đồng
1.490.000*5=7.450.000 đồng
Kể từ ngày 01/07/2020
1.600.000*3=4.800.000 đồng
1.600.000*5=8.000.000 đồng
Tóm lại, việc ban hành Thông tư 13/2019/TT-BNV tiếp tục cho thấy sự quan tâm của Nhà nước trong việc nỗ lực nâng cao đời sống của tầng lớp cán bộ, công chức hoặc những người thực hiện công việc của Nhà nước thông qua việc tăng và ghi nhận mức lương, phụ cấp, đảm bảo tương xứng với công sức đóng góp và là nguồn động viên để các cán bộ, công chức và những người hoạt động không chuyên trách tiếp tục phấn đấu sự nghiệp vì nước, vì dân.

Những điểm mới về Quyền đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động của Người lao động theo Bộ luật lao động 2019.
Trả lời

Ngày 20/11/2019, Quốc hội đã thông qua Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 (“BLLĐ 2019”) thay thế Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 (“BLLĐ 2012”). BLLĐ 2019 sẽ có hiệu lực vào ngày 01/01/2021. Theo đó, BLLĐ 2019 đã đưa ra rất nhiều quy định mới, một trong số đó là quy định về quyền đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động (“HĐLĐ”) của Người lao động (“NLĐ”) và Người sử dụng lao động (“NSDLĐ”). Cụ thể như sau sau:
Quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ. Có 02 nội dung mới, cụ thể:
Thứ nhất, Trước đây, BLLĐ 2012 chỉ dành quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ không cần lý do đối với NLĐ theo HĐLĐ không xác định thời hạn. Nay, BLLĐ 2019 cho phép tất cả NLĐ đều được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà không cần lý do, chỉ cần đáp ứng đủ thời gian báo trước. Cụ thể:
Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn;
Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;
Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Thứ hai, NLĐ được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ ngay, không cần báo trước đến NSDLĐ nếu:
Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận;
Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn;
Bị NSDLĐ ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;
Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc;
Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định;
NSDLĐ cung cấp thông tin không trung thực làm ảnh hưởng đến việc thực hiện HĐLĐ;
Tóm lại, BLLĐ 2019 đã sửa đổi, bổ sung một số nội dung mang tính tăng cường sự tự do, dân chủ trong quan hệ lao động trên thực tiễn, khắc phục tình trạng “lách” các quy định của pháp luật lao động trong vấn đề đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Mở rộng hơn quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ, đặc biệt là đối với NLĐ, từ đó đảm bảo quyền tự do tìm kiếm việc làm tốt hơn cho NLĐ, phòng ngừa, xóa bỏ lao động cưỡng bức. Ngoài ra, trong chế định đơn phương chấm dứt HĐLĐ, BLLĐ 2019 cũng đã dành nhiều quy định mạng tính nhân văn hơn đối với NLĐ nữ khi mạng thai, nuôi con dưới 12 tháng tuổi; quan tâm hơn đến đời sống của NLĐ và trẻ em.

Bản Tin Pháp Luật Số 49/2019
Trả lời

Trình tự thủ tục cấp Quyết định công nhân lưu hành giống cây trồng
Trả lời

Ngày 13/12/2019, Chính phủ ban hành Nghị định 94/2019/NĐ-CP về hướng dẫn luật trồng trọt về giống cây trồng và canh tác. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/02/2020.
Theo đó, tại Điều 5 Nghị định 94/2019 có quy định về hồ sơ và trình tự thủ tục cấp Quyết định công nhân lưu hành giống cây trồng, cụ thể:
Về hồ sơ đề nghị cấp Quyết định công nhận lưu hành giống cây trồng:
Văn bản đề nghị cấp Quyết định công nhận lưu hành giống cây trồng theo Mẫu số 01.CN Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này.
Kết quả khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định của giống cây trồng đề nghị công nhận lưu hành.
Kết quả khảo nghiệm giá trị canh tác, giá trị sử dụng của giống cây trồng.
Quy trình canh tác của giống do tổ chức, cá nhân đứng tên đăng ký cấp Quyết định công nhận lưu hành giống cây trồng biên soạn.
Bản công bố các thông tin về giống cây trồng do tổ chức, cá nhân đứng tên đăng ký cấp Quyết định công nhận lưu hành giống cây trồng biên soạn theo Mẫu số 02.CN Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này.
Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp Quyết định công nhận lưu hành giống cây trồng:
Tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ đến Cục Trồng trọt. Trong thời gian 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cục Trồng trọt thẩm định hồ sơ, cấp Quyết định công nhận lưu hành giống cây trồng theo Mẫu số 05.CN Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này và đăng tải Quyết định, các tài liệu kèm theo trên cổng thông tin điện tử của Cục Trồng trọt. Trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Giống cây trồng được phép lưu hành, kể từ ngày ký Quyết định công nhận lưu hành.
Sự ra đời của Nghị định 94/2019/NĐ-CP là căn cứ để cho các cá nhân, tổ chức nắm bắt và thực hiện các trình tự thủ tục hành chính trong lĩnh vực nông nghiệp, là cơ sở để theo dõi, giám sát việc thực hiện quy trình, qua đó tạo ra sự công khai và minh bạch trong hoạt động hành chính của cơ quan nhà nước.