Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Đơn giản hóa thủ tục mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa
Trả lời

Ngày 09/04/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 51/2018/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/06/2018.

Theo đó, Nghị định số 51/2018/NĐ-CP quy định một số nội dung nổi bật như sau:

  1. Bãi bỏ quy định khống chế phạm vi hàng hóa được phép mua bán qua Sở Giao dịch. Quy định mới cho phép mua bán tất cả các loại hàng hóa, kể cả hàng hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện, chỉ loại trừ hàng cấm kinh doanh. Tuy nhiên, đối với những mặt hàng hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện, Sở Giao dịch phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi niêm yết. Đối với những mặt hàng khác thì phải thông báo với Bộ Công thương trước khi chính thức niêm yết 30 ngày.
  2. Quy định về điều kiện thành lập Sở Giao dịch hàng hóa:

– Vốn điều lệ từ 150 tỷ đồng trở lên;

– Có hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng các yêu cầu về giải pháp công nghệ và kỹ thuật trong hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa;

– Điều lệ hoạt động không trái với quy định của pháp luật.

  1. Quy định thành viên môi giới của Sở Giao dịch hàng hóa phải có vốn điều lệ từ 05 tỷ đồng trở lên. Riêng thành viên kinh doanh phải có vốn điều lệ từ 75 tỷ đồng trở lên.
  2. Cho phép nhà đầu tư nước ngoài được quyền mua hàng hàng hóa trên Sở Giao dịch tại Việt Nam và được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp của Sở Giao dịch. Tuy nhiên, bị khống chế hạn mức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp không quá 49% vốn điều lệ.
  3. Cho phép thương nhân Việt Nam mua bán hàng hóa trên Sở Giao dịch ở nước ngoài thông qua các Sở Giao dịch tại Việt Nam có liên thông với Sở Giao dịch nước ngoài đó.

Có thể thấy, Nghị định số 51/2018/NĐ-CP đã cắt giảm nhiều điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa. Thông qua đó, Nghị định này có ý nghĩa tích cực trong việc thúc đẩy hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa phát triển, thu hút nhiều đối tượng tham gia giao dịch, giúp cho người nông dân cũng như giúp các doanh nghiệp thương mại, xuất nhập khẩu có được công cụ bảo hiểm giá để chủ động sản xuất kinh doanh, cân đối cung cầu.

Ban hành kế hoạch phát triển hoạt động logistics tại Hà Nội năm 2018
Trả lời

Ngày 05/04/2018, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 83/KH-UBND quy định về việc phát triển hoạt động logistics trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2018. Kế hoạch này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó, Kế hoạch số 83/KH-UBND đưa ra một số nhiệm vụ cần thực hiện như sau:

  1. Hoàn thiện cơ chế quản lý và phát triển hoạt động logistics;
  2. Phát triển hạ tầng và dịch vụ logistics, tích hợp sâu dịch vụ logistics trong chiến lược phát triển ngành;
  3. Phát triển dịch vụ logistics, cụ thể hóa quy hoạch các trung tâm logistics và cơ sở hạ tầng phục vụ dịch vụ logistics trên địa bàn;
  4. Phát triển dịch vụ logistics, tổ chức các buổi hội nghị, tọa đàm, tập huấn về khuyến khích sử dụng dịch vụ logistics thuê ngoài, sử dụng những dịch vụ giá trị gia tăng trong quá trình lưu thông sản phẩm, hàng hóa trước khi đưa đến tay người tiêu dùng.
  5. Tạo điều kiện để các hiệp hội doanh nghiệp, ngành nghề phát huy vai trò thúc đẩy tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp logistics, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics với các doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước.
  6. Phát triển nguồn nhân lực logistics.

Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ nói trên sẽ được huy động từ nguồn kinh phí ngân sách, các nguồn kinh phí đóng góp, tài trợ, huy động của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và các nguồn huy động hợp pháp khác.

Thông qua những nhiệm vụ đề ra, Kế hoạch số 83/KH-UBND được đánh giá sẽ góp phần định hướng phát triển kết cầu hạ tầng logistics đồng bộ với kết cầu hạ tầng giao thông vận tải, kết cấu hạ tầng thương mại – dịch vụ văn minh, hiện đại, đưa Hà Nội trở thành một đầu mối Logistics quan trọng của toàn vùng, trên cả nước và khu vực.

Ban hành kế hoạch phát triển thương mại điện tử tại Hà Nội năm 2018
Trả lời

Ngày 09/04/2018, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 84/KH-UBND quy định về việc phát triển Thương mại điện tử trên địa bàn thành phố Hà Nội. Kế hoạch này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó, Kế hoạch số 84/KH-UBND đưa ra một số nhiệm vụ cần thực hiện như sau:

  1. Tuyên truyền các chính sách, pháp luật về quản lý và phát triển thương mại điện tử của Trung ương và Thành phố đến các tổ chức, cá nhân hoạt động thương mại điện tử trên địa bàn;
  2. Giới thiệu, phổ biến những mô hình thương mại điện tử mới, tiên tiến.
  3. Tổ chức khảo sát, thống kê về tình hình hoạt động thương mại điện tử trên địa bàn Thành phố để kịp thời nắm bắt thực tiễn phát sinh, xây dựng chính sách quản lý, phát triển hoạt động thương mại điện tử phù hợp.
  4. Thí điểm vận hành chuỗi “Cửa hàng tự động” (không người bán, sử dụng mô hình O2O Online 2 Offline, sử dụng mã hình QR trong đặt hàng trực tuyến và thanh toán trực tuyến, sử dụng logistics điện tử trong giao nhận sản phẩm, hàng hóa).
  5. Tổ chức vận hành mạng lưới “Máy bán hàng tự động” tại các địa điểm công cộng trên địa bàn Thành phố.

Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ nói trên sẽ được huy động từ nguồn kinh phí ngân sách, các nguồn kinh phí đóng góp, tài trợ, huy động của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và các nguồn huy động hợp pháp khác.

Thông qua những nhiệm vụ đề ra, Kế hoạch số 84/KH-UBND được đánh giá sẽ mang lại lợi ích to lớn cho người tiêu dùng, tạo động lực mạnh mẽ để thúc đẩy các doanh nghiệp ứng dụng Thương mại điện tử trong khởi nghiệp, tạo tiền đề cho sự phát triển cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 trong lĩnh vực Thương mại điện tử trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Quy định việc quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác điều ước quốc tế và công tác thỏa thuận quốc tế
Trả lời

Ngày 06/02/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 13/2018/TT-BTC quy định việc quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác điều ước quốc tế và công tác thỏa thuận quốc tế. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 02/04/2018.

Theo đó, Thông tư số 13/2018/TT-BTC quy định về mức chi áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế theo quy định tại Luật Điều ước quốc tế năm 2016 và Pháp lệnh ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế năm 2007, cụ thể như sau:

1. Các nội dung chi tổ chức hội nghị trong nước, công tác phí cho cán bộ đi công tác trong nước, thực hiện theo mức chi quy định tại Thông tư số 40/2017/TT-BTC; chi công tác phí cho cán bộ đi công tác ở nước ngoài theo quy định tại Thông tư số 102/2012/TT-BTC; chi làm đêm, làm thêm giờ, theo mức chi quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2005/TTLT-BNV-BTC.

2. Chi rà soát văn bản trong nước và rà soát, thống kê các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế trong cùng lĩnh vực phục vụ trực tiếp công tác xây dựng điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế…thực hiện theo mức chi quy định tại Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP.

3. Về các khoản chi khác gồm: Cấp bản sao điều ước quốc tế; chi phí sao lục, in ấn tài liệu; chi mua, thu thập tài liệu; chi mua văn phòng phẩm phục vụ trực tiếp cho soạn thảo điều ước quốc tế thì thực hiện theo chứng từ chi thực tế, theo hợp đồng của đơn vị cung ứng. Trường hợp thu thập tài liệu phải có bảng kê khai ký nhận tiền của người cung cấp tài liệu.

4. Các khoản chi đóng góp tài chính theo điều ước quốc tế, mức đóng góp thực hiện căn cứ vào quy định của điều ước quốc tế, tổ chức quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp có sự thay đổi mức đóng góp tài chính thì cơ quan chủ trì thực hiện điều ước quốc tế lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính và cơ quan có liên quan; trình Thủ tướng Chính phủ quyết định làm căn cứ đóng góp.

5. Đối với một số chế độ, mức chi có tính chất đặc thù như chi soạn thảo mới dự thảo điều ước quốc tế là 8 triệu đồng/dự thảo văn bản; soạn thảo dự thảo sửa đổi, bổ sung, gia hạn là 5 triệu đồng/dự thảo văn bản. Trường hợp chi cho các cá nhân tham gia cuộc họp, mức chi cho người chủ trì là 150.000 đồng/người/buổi; các thành viên tham dự là 100.000 đồng/người/buổi…

6. Các khoản chi phí khác phát sinh phục vụ trực tiếp công tác điều ước quốc tế, công tác thỏa thuận quốc tế thì thanh toán theo hoá đơn, chứng từ chi tiêu thực tế hợp pháp theo quy định của Luật Kế toán và nằm trong phạm vi dự toán ngân sách đã được giao.

Như vậy, có thể thấy, Thông tư số 13/2018/TT-BTC đã có những quy định cụ thể và chi tiết về mức chi ngân sách cho các hoạt động liên quan tới công tác điều ước quốc tế và công tác thỏa thuận quốc tế theo hướng minh bạch, rõ ràng hơn so với các văn bản trước đây.

Giải pháp khắc phục tình trạng các lô hàng thủy sản Việt Nam bị nước ngoài trả về
Trả lời

Ngày 04/04/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 09/CT-TTg quy định về các nhiệm vụ, giải pháp khắc phục tình trạng các lô hàng thủy sản Việt Nam bị nước ngoài cảnh báo, trả về. Chỉ thị này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó, Chỉ thị số 09/CT-TTg quy định một số nhiệm vụ, giải pháp yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo thực hiện như sau:

1. Giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách pháp luật trong quản lý an toàn thực phẩm thủy sản xuất khẩu theo hướng tạo điều kiện tối đa cho người dân, doanh nghiệp và đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thị trường xuất khẩu.

2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm quản lý chặt chẽ việc cấp phép lưu hành thuốc thú y, chất xử lý, cải tạo môi trường nuôi trồng thủy sản; thường xuyên tổ chức rà soát, loại bỏ sản phẩm kém chất lượng, không an toàn ra khỏi Danh mục các sản phẩm được phép lưu hành; chỉ đạo đẩy mạnh nghiên cứu, cải tiến công nghệ sản xuất giống thủy sản để chủ động nguồn giống bảo đảm chất lượng; vận động, hướng dẫn người nuôi, doanh nghiệp áp dụng biện pháp nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững.

3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Y tế và Bộ Công thương kiểm soát chặt chẽ hóa chất, kháng sinh nhập khẩu để sử dụng trong y tế, công nghiệp nhưng bị lạm dụng trong sản xuất kinh doanh thủy sản; tiếp tục phối hợp Bộ Công an tổ chức điều tra, triệt phá dứt điểm các đường dây nhập lậu, tàng trữ, lưu thông, mua bán chất cấm, chất xử lý, cải tạo môi trường, thuốc thú y ngoài danh mục được phép lưu hành và xử lý nghiêm trường hợp vi phạm.

4. Giao Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công thương cập nhật thông tin, thông báo cho doanh nghiệp về thay đổi trong chính sách nhập khẩu, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, yêu cầu kiểm dịch, điều kiện nhập khẩu của các nước đối với hàng thủy sản.

5. Bảo đảm quy trình kiểm tra, kiểm nghiệm và cấp chứng nhận an toàn thực phẩm (chứng thư) cho lô hàng thủy sản xuất khẩu một cách chặt chẽ nhằm giảm thiểu các lô hàng được cấp chứng thư xuất khẩu bị cảnh báo, trả về.

Chỉ thị số 09/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ thể hiện sự quan tâm đến ngành nuôi trồng, sản xuất và xuất khẩu thủy sản trên cả nước nhằm mục tiêu chỉ đạo xử lý dứt điểm tình trạng các lô hàng thủy sản Việt Nam bị nước ngoài cảnh báo, trả về, từ đó nâng cao hình ảnh, uy tín sản phầm thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới và nâng cao hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.

28 thủ tục về an toàn thực phẩm, dinh dưỡng bị bãi bỏ
Trả lời

Ngày 06/04/2018, Bộ Y Tế đã ban hành Quyết định số 2318/QĐ-BYT về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành/bị bãi bỏ trong lĩnh vực an toàn thực phẩm và dinh dưỡng thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Y Tế. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 06/04/2018.

Theo đó, Quyết định số 2318/QĐ-BYT đã bãi bỏ 28 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng của Bộ Y tế, nổi bật là các thủ tục sau:

1. Cấp lại giấy xác nhận nội dung quảng cáo sữa và sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ trong trường hợp hết hiệu lực.

2. Cấp lại giấy xác nhận nội dung quảng cáo thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng.

3. Cấp giấy xác nhận nội dung quảng cáo sữa và sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ.

4. Công bố hợp quy đối với sản phẩm có quy chuẩn kỹ thuật dựa trên kết quả tự đánh giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

Thông qua việc bãi bỏ một số thủ tục không cần thiết trong lĩnh vực an toàn thực phẩm và dinh dưỡng thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Y Tế, Quyết định số 2318/QĐ-BYT đã góp phần tích cực trong việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho sự tham gia của các doanh nghiệp vào lĩnh vực thực phẩm dinh dưỡng.

Nhiệm vụ của Thanh tra Chính phủ trong phòng, chống tham nhũng
Trả lời

Ngày 09/04/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 50/2018/NĐ-CP quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 29/05/2018.

Theo đó, Nghị định số 50/2018/NĐ-CP có một số nội dung chính như sau:

1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Chính phủ:

– Trình Chính phủ các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật;

– Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Định hướng Chương trình thanh tra hàng năm, các dự thảo quyết định, chỉ thị, các văn bản khác về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ và tổ chức triển khai thực hiện.

– Ban hành thông tư, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.

– Thanh tra:

– Tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

– Phòng, chống tham nhũng

– Quyết định và tổ chức thực hiện kế hoạch cải cách hành chính của Thanh tra Chính phủ theo Chương trình, kế hoạch cải cách hành chính nhà nước của Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

– Chỉ đạo, hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra; bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh tra; thực hiện việc quản lý, bổ nhiệm các ngạch công chức thanh tra theo quy định của pháp luật; cấp thẻ thanh tra viên cho công chức, sỹ quan được bổ nhiệm vào các ngạch thanh tra viên trong toàn ngành Thanh tra; ban hành tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra bộ và Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra tỉnh.

– Quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế; cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Thanh tra Chính phủ theo quy định của pháp luật.

2. Cơ cấu tổ chức

– Vụ Pháp chế và Vụ Hợp tác quốc tế có 02 phòng;

– Vụ Kế hoạch – Tổng hợp và Vụ Giám sát, Thẩm định và Xử lý sau thanh tra có 03 phòng;

– Vụ Tổ chức cán bộ có 04 phòng;

– Văn phòng có 05 phòng; Cục I, Cục II, Cục III có 04 phòng;

– Cục IV, Ban Tiếp công dân trung ương có 05 phòng.

Như vậy, Nghị định số 50/2018/NĐ-CP đã phân định rõ ràng, cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ. Qua đó, Nghị định này góp phần đảm bảo quá trình vận hành của bộ máy quản lý nhà nước đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Thiết bị nhận dạng tự động lắp đặt trên tàu thuyền phải được duy trì hoạt động theo chế độ 24/7
Trả lời

Ngày 09/04/2018, Bộ Giao thông – Vận tải đã ban hành Thông tư số 17/2018/TT-BGTVT về việc quy định quản lý và khai thác thông tin nhận dạng tự động của tàu thuyền. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.

Theo đó, Thông tư số 17/2018/TT-BGTVT quy định chi tiết một số nội dung sau:

1. Thiết bị hệ thống nhận dạng tự động (viết tắt là AIS) được lắp đặt, cài đặt trên tàu thuyền phải có các thông tin tối thiểu bao gồm: Mã nhận dạng của tàu thuyền, tên tàu thuyền, số nhận dạng tàu (nếu có), hô hiệu (nếu có), kiểu tàu thuyền, kích thước tàu thuyền (chiều dài, chiều rộng), vị trí, tốc độ và hướng đi của tàu thuyền;

2. Thiết bị AIS phải được duy trì hoạt động theo chế độ 24/7 và phải được kiểm tra kỹ thuật, bảo dưỡng định kỳ theo khuyến nghị của nhà sản xuất. Đối với Trung tâm dữ liệu AIS, phải có khả năng lưu trữ dữ liệu trong thời gian tối thiểu 03 năm.

3. Thiết bị AIS sau khi được lắp đặt, cài đặt và trong quá trình sử dụng trên tàu thuyền phải được kiểm tra bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Bằng những quy định rõ ràng và cụ thể, Thông tư số 17/2018/TT-BGTVT được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả của việc khai thác hệ thống nhận dạng tự động AIS trên tàu thuyền, qua đó góp phần hỗ trợ công tác bảo đảm an toàn, an ninh, điều tra tai nạn, tìm kiếm cứu nạn, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải và đường thủy nội địa, phòng ngừa ô nhiễm môi trường từ tàu thuyền, đồng thời tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này.

Giải pháp đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình bị ảnh hưởng bởi giá cát xây dựng
Trả lời

Ngày 06/04/2018, Văn phòng Chính phủ đã ban hành Thông báo số 135/TB-VPCP nêu kết luận của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng về tình hình giá cát xây dựng biến động lớn ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng xây dựng. Thông báo này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó, Thông báo số 135/TB-VPCP đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình bị ảnh hưởng bởi giá cát xây dựng như sau:

1. Thường xuyên nắm thông tin về giá cả, nguồn cung, chống việc đầu cơ, tích trữ để tăng giá.

2. Đối với các thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh và một số địa phương có nhu cầu sử dụng cát lớn, yêu cầu các địa phương tổng hợp nhu cầu cụ thể, lập quy hoạch và kế hoạch cung ứng sử dụng cát, sỏi làm vật liệu xây dựng để chủ động trong việc đáp ứng nhu cầu cát, sỏi cho xây dựng và san lấp.

3. Các Bộ, ngành, địa phương thực hiện một số giải pháp sử dụng cát nhân tạo thay cát tự nhiên, tiến tới không sử dụng cát tự nhiên vào mục đích san lấp.

Để thực hiện có hiệu quả các giải pháp nói trên, Phó Thủ tướng giao nhiệm vụ cụ thể tới từng bộ ngành như sau:

– Bộ Xây dựng phải Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành trong Quý I năm 2018 “Chỉ dẫn kỹ thuật sử dụng tro, xỉ nhiệt điện trong san lấp cho công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp”.

– Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan rà soát, đánh giá về khối lượng, giá trị các hợp đồng cần điều chỉnh giá, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

– Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự báo tình hình bồi lắng cát tại các con sông, luồng lạch, cửa sông, cửa biển đề xuất giải pháp quản lý và khai thác cát, sỏi không làm sạt lở bờ sông, bờ biển.

– Bộ Tài chính nghiên cứu, sửa đổi Thông tư số 44/2017/TT-BTC ngày 12/05/2017 quy định về khung giá tính thuế tài nguyên đối với nhóm, loại tài nguyên có tính chất lý, hóa giống nhau phù hợp với thực tế tại địa phương; nghiên cứu chính sách thuế để ưu tiên phát triển việc sản xuất, sử dụng các loại cát nhân tạo và vật liệu thay thế cát tự nhiên.

– Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát, tính toán cân đối cung cầu cát sỏi xây dựng làm vật liệu san lấp. Tăng cường quản lý hoạt động khai thác và tiêu thụ cát xây dựng tại địa phương.

Bằng những chỉ đạo cụ thể và rõ ràng của Phó Thủ tướng, Thông báo số 135/TB-VPCP được đánh giá có ý nghĩa rất quan trọng trong bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên cát sỏi, từ đó góp phần ổn định giá cả của loại tài nguyên này trên thị trường.

Nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với tiền ảo
Trả lời

Ngày 11/04/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTg về tăng cường quản lý các hoạt động liên quan tới Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác. Chỉ thị này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó, Chỉ thị số 10/CT-TTg quy định một số nội dung chính như sau:

1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các tổ chức tín dụng không được thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền ảo trái pháp luật, tăng cường rà soát, báo cáo kịp thời các giao dịch đáng ngờ liên quan tới tiền ảo;

2. Bộ Tài chính chỉ đạo các công ty đại chúng, công ty chứng khoán không được thực hiện các hoạt động phát hành, giao dịch và môi giới giao dịch liên quan tới tiền ảo, hạn chế nhập khẩu, quản lý thiết bị, máy móc cho mục đích đào tiền ảo;

3. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, các Bộ, ngành liên quan tăng cường phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động huy động tài chính, kinh doanh đa cấp, lừa đảo trên Internet;

4. Bộ Tư pháp khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý về quản lý, xử lý đối với tiền ảo, tài sản ảo;

5. Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan thông tin, báo chí tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền kịp thời, chính xác về những rủi ro, nguy cơ, hệ lụy khi tham gia mua bán, giao dịch, đầu tư, kinh doanh tiền ảo; không đưa các thông tin gây tâm lý bất lợi về tiền ảo.

Thông qua những chỉ đạo trên toàn bộ máy Nhà nước, có thể thấy, Chính phủ đang đặc biệt quan tâm đến loại hình tiền ảo và nỗ lực xây dựng cơ chế quản lý cũng như kiểm soát tốt nhất đối với các hoạt động liên quan tới loại hình tài sản này.