Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Quy định hình thức xử phạt bổ sung đối với hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng và kinh doanh bất động sản
Trả lời

Ngày 24/04/2018, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 03/2018/TT-BXD quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 12/06/2018.

Theo đó, Thông tư số 03/2018/TT-BXD quy định các hình thức xử phạt bổ sung đối với các hành vi vi phạm quy định về trật tự xây dựng như sau:

  1. Cá nhân, tổ chức vi phạm phải dừng thi công xây dựng kể từ thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính;
  2. Cá nhân, tổ chức vi phạm có trách nhiệm thực hiện thủ tục đề nghị cấp giấy phép xây dựng hoặc Điều chỉnh giấy phép xây dựng và xuất trình người có thẩm quyền xử phạt giấy phép xây dựng được cấp hoặc được Điều chỉnh;
  3. Hết thời hạn theo quy định pháp luật, cá nhân, tổ chức vi phạm không xuất trình giấy phép xây dựng được cấp hoặc được điều chỉnh thì người có thẩm quyền xử phạt ra thông báo thực hiện biện pháp buộc tháo dỡ công trình.

Như vậy, có thể thấy, Thông tư số 03/2018/TT-BXD đã siết chặt các quy định về quản lý xây dựng, qua đó thực hiện mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước đối với các dự án đầu tư và xây dựng.

Hướng dẫn áp dụng về tha tù trước thời hạn có điều kiện
Trả lời

Ngày 24/04/2018, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 của Bộ luật Hình sự về tha tù trước thời hạn có điều kiện. Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày 09/06/2018.

Theo đó, Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP quy định một số điều kiện được tha tù trước thời hạn đối với người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng cụ thể như sau:

  1. Đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù;
  2. Phạm tội lần đầu;
  3. Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt thể hiện ở việc chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; tích cực học tập, lao động, cải tạo và phải có đủ kỳ xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự;
  4. Có nơi cư trú rõ ràng;
  5. Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;
  6. Đã chấp hành được ít nhất 1/2 mức phạt tù có thời hạn; ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn;
  7. Khi xét tha tù trước thời hạn có điều kiện phải xem xét thận trọng, chặt chẽ để bảo đảm việc tha tù trước thời hạn có điều kiện không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là đối với các trường hợp phạm tội về ma túy, tham nhũng, phạm tội có tổ chức, các đối tượng chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố, chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm.

Như vậy Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP đã cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Hình sự, là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước đưa ra các quyết định về tha tù trước thời hạn đảm bảo tính công khai, minh bạch. Đồng thời, Nghị quyết này cũng được đánh giá là động lực để những người đang chấp hành án phạt tù cải tạo tốt và sớm trở về, hòa nhập với cộng đồng.

Mục đích công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Trả lời

Ngày 02/05/2018, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 169/QĐ-VKSTC ban hành quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó, Quyết định số 169/QĐ-VKSTC xác định mục đích của công tác thực hành quyền công tố như sau:

  1. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đều phải được tiếp nhận đầy đủ, kiểm tra, xác minh, xử lý kịp thời; không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội;
  2. Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, kịp thời, đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong công tác này phải được phát hiện, khắc phục và xử lý nghiêm minh.

Thông qua quy chế tạm thời về mục đích công tác của ngành kiểm sát về việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố ban hành kèm theo Quyết định số 169/QĐ-VKSTC, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản, là kim chỉ nam trong việc thực hiện các hoạt động nói trên, phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng “Nhà nước sát dân, gần dân, nghe dân, học dân, phục vụ kịp thời lợi ích chính đáng của nhân dân”.

Mục đích công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và giám định
Trả lời

Ngày 02/05/2018, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 170/QĐ-VKSTC ban hành quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và giám định. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó, Quyết định số 170/QĐ-VKSTC xác định mục đích của công tác thực hành quyền công tố như sau:

  1. Xác định có hay không có tội phạm xảy ra để xử lý theo quy định của pháp luật. Mọi trường hợp có người bị giết, nghi bị giết, chết dưới nước, chết do treo cổ, chết do độc tố, do hơi độc, do điện giật, chết do tai nạn giao thông, chết do tai nạn lao động và các trường hợp chết khác chưa xác định được nguyên nhân đều phải tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, trưng cầu giám định pháp y và tiến hành xác minh, điều tra ban đầu tại hiện trường để làm rõ căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.
  2. Việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và giám định phải kịp thời, khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và giám định phải được phát hiện nhằm khắc phục và xử lý nghiêm minh.
  3. Thông qua kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và giám định để xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm hay không có dấu hiệu tội phạm. Các trường hợp sau khi khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và giám định xác định có dấu hiệu của tội phạm thì phải khởi tố vụ án hình sự để tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật.

Thông qua quy chế tạm thời về mục đích công tác của ngành kiểm sát về khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và giám định ban hành kèm theo Quyết định số 170/QĐ-VKSTC, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản, có ý nghĩa nâng cao chất lượng thực hiện hoạt động điều tra giám định, tạo điều kiện thuận lợi để công tác xét xử “đúng người, đúng tội”.

Quy định mới về đăng ký phương tiện giao thông đường sắt
Trả lời

Ngày 27/04/2018, Bộ Giao thông Vận tải đã ban hành Thông tư số 21/2018/TT-BGTVT quy định về đăng ký phương tiện giao thông đường sắt, di chuyển phương tiện giao thông đường sắt trong trường hợp đặc biệt. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2018.

Theo đó, Thông tư số 21/2018/TT-BGTVT đã đưa ra một số nội dung chính như sau:

  1. Quy định về trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, thu hồi, xóa giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đường sắt (GTĐS) hoạt động trên đường sắt quốc gia, đường sắt chuyên dùng, đường sắt đô thị và việc di chuyển phương tiện GTĐS trong trường hợp đặc biệt.
  2. Thời hạn thực hiện các thủ tục nói trên không quá 03 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ đầy đủ và đúng quy định, Cục Đường sắt Việt Nam phải cấp Giấy chứng nhận đăng ký; trường hợp không cấp, phải trả lời cho chủ sở hữu phương tiện bằng văn bản và nêu rõ lý do.
  3. Quy định về trường hợp đặc biệt đối với việc di chuyển phương tiện GTĐS:

– Di chuyển trên đường sắt để kiểm tra các tính năng kĩ thuật của phương tiện trước khi nghiệm thu, bàn giao đưa ra khai thác, vận dụng;

– Di chuyển trên đường sắt từ vị trí tập kết này đến vị trí tập kết khác để cất giữ, bảo quản phương tiện; di chuyển trên đường sắt thực hiện cứu nạn khi có yêu cầu.

Bằng những quy định rõ ràng và chi tiết, Thông tư số 21/2018/TT-BGTVT được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý phương tiện giao thông đường sắt, qua đó tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy loại hình giao thông đường sắt phát triển.

Quy định về vận tải hàng hóa trên đường sắt quốc gia và đường sắt chuyên dùng có nối ray với đường sắt quốc gia
Trả lời

Ngày 02/05/2018, Bộ Giao thông Vận tải đã ban hành Thông tư số 22/2018/TT-BGTVT quy định về vận tải hàng hóa trên đường sắt quốc gia và đường sắt chuyên dùng có nối ray với đường sắt quốc gia. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.

Theo đó, Thông tư số 22/2018/TT-BGTVT quy định việc thực hiện vận tải hàng hóa trên đường sắt cụ thể như sau:

  1. Về xác định tên hàng hóa: Người thuê vận tải có trách nhiệm kê khai đúng tên hàng hóa theo yêu cầu của doanh nghiệp. Trường hợp là hàng nguy hiểm thì phải ghi đúng tên gọi trong Danh mục hàng nguy hiểm vận tải bằng đường sắt. Người thuê vận tải phải chịu trách nhiệm về hậu quả xảy ra do kê khai không đúng tên hàng hóa.
  2. Về thứ tự ưu tiên trong vận tải hàng hóa: Hàng hóa cùng nhận được vào một thời điểm thì ưu tiên hàng nguy hiểm; thi hài, hài cốt; động vật sống, hàng mau hỏng, hàng nhanh giảm trọng lượng; các loại hàng hóa khác không thuộc loại quy định trên do doanh nghiệp quy định.
  3. Về đóng gói hàng hóa: Tùy theo tính chất của hàng hóa, người thuê vận tải phải đóng gói đúng quy cách để bảo đảm hàng hóa không bị mất mát, giảm khối lượng, hư hỏng, giảm chất lượng hoặc gây ảnh hưởng đến các hàng hóa khác trong quá trình xếp, dỡ và vận chuyển. Các loại hàng hóa đóng gói bằng gòm, kiện thùng phải được ghi nhãn hiệu, dấu hiệu, ký hiệu, biểu trưng đặc tính của hàng hóa (nếu có), trọng lượng tên đầy đủ của hàng hóa, bảo đảm chính xác, rõ ràng; riêng đối với thi hài, hài cốt phải có người áp tải và bảo đảm vệ sinh, phòng dịch, bảo vệ môi trường và có đủ giấy tờ theo quy định của pháp luật.
  4. Về việc đưa toa xe về vào địa điểm xếp dỡ: Chậm nhất 02 giờ trước giờ cấp toa xe, doanh nghiệp phải thông báo cho người thuê vận tải về số lượng, số hiệu của toa xe đưa vào đường xếp dỡ hoặc địa điểm giao tiếp. Khi hợp đồng khai thác đường nhánh, đường chuyên dùng có quy định giờ cấp xe hàng ngày thì doanh nghiệp không cần phải thông báo.

Như vậy, so với các Thông tư trước đây, Thông tư số 22/2018/TT-BGTVT đã đưa ra những quy định mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại, đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, doanh nghiệp có liên quan đến vận tải hàng hóa bằng đường sắt, đồng thời thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong việc nâng cao chất lượng của dịch vụ vận chuyển, tạo điều kiện phát triển ngành dịch vụ vận tải đường sắt.

Bãi bỏ căn cứ quy định về xác định mức lãi suất vốn vay huy động vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Trả lời

Ngày 28/03/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 30/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 75/2017/TT-BTC ngày 21/07/2017 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 55/2016/TT-BTC ngày 23/03/2016 quy định một số nội dung về quản lý tài chính đối với dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư và chi phí lựa chọn nhà đầu tư. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 12/05/2018.

Theo đó, Thông tư số 30/2018/TT-BTC đã bãi bỏ căn cứ quy định về xác định mức lãi suất vốn vay huy động vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư, cụ thể như sau:

  1. Bãi bỏ căn cứ mức lãi suất vốn vay không được vượt quá mức lãi suất trung bình cho vay trung hạn và dài hạn của 04 ngân hàng thương mại nhà nước tại thời điểm đàm phán hợp đồng dự án.
  2. Đối với dự án đã ký hợp đồng dự án trước ngày 12/05/2018 thì tiếp tục thực hiện theo hợp đồng dự án đã ký. Tuy nhiên, nếu sau thời điểm nói trên, dự án có sự điều chỉnh về mức lãi suất vốn vay thì sự điều chỉnh sẽ tuân theo quy định tại Thông tư này.

Thông tư số 30/2018/TT-BTC được kỳ vọng sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận với nhiều nguồn huy động vốn hơn nữa, qua đó đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án theo hình thức đối tác công tư, tạo đà cho sự phát triển chung của kinh tế đất nước.

Tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP)
Trả lời

Ngày 04/05/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2018/NĐ-CP quy định  về đầu tư theo hình thức đối tác công tư. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 19/06/2018.

Theo đó, Nghị định số 63/2018/NĐ-CP quy định nguyên tắc xác định tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư như sau:

  1. Đối với dự án có tổng vốn đầu tư đến 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư không được thấp hơn 20% tổng vốn đầu tư;
  2. Đối với dự án có tổng vốn đầu tư trên 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư được xác định theo nguyên tắc: Đối với phần vốn đến 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu không được thấp hơn 20%; đối với phần vốn từ trên 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu không được thấp hơn 10%;
  3. Vốn góp của Nhà nước, vốn hỗ trợ xây dựng công trình phụ trợ, bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư không tính vào tổng vốn đầu tư để xác định tỷ lệ vốn chủ sở hữu.

Bằng các quy định chi tiết và cụ thể, so với các văn bản trước đây, Nghị định số 63/2018/NĐ-CP được đánh giá đã mở ra cơ hội hợp tác lớn hơn cho các nhà đầu tư, phù hợp với cơ chế mở cửa hiện nay của Chính phủ về kêu gọi các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài.

Bản tin pháp luật số 17/2018
Trả lời

Căn cứ định giá tài sản trong tố tụng hình sự
Trả lời

Ngày 07/03/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 30/2018/NĐ-CP quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/05/2018.

Theo đó, Nghị định số 30/2018/NĐ-CP xây dựng căn cứ định giá tài sản như sau:

  1. Đối với tài sản không phải là hàng cấm phải dựa trên ít nhất một trong các căn cứ sau:

– Giá thị trường của tài sản;

– Giá do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, quyết định;

– Giá do doanh nghiệp thẩm định giá cung cấp;

– Giá trong tài liệu, hồ sơ kèm theo tài sản cần định giá (nếu có);

– Các căn cứ khác về giá hoặc giá trị của tài sản cần định giá.

  1. Đối với tài sản là hàng cấm phải dựa trên ít nhất một trong các căn cứ theo thứ tự ưu tiên sau:

– Giá mua bán thu thập được trên thị trường không chính thức tại thời điểm và tại nơi tài sản là hàng cấm được yêu cầu định giá hoặc tại địa phương khác;

– Giá ghi trên hợp đồng hoặc hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu hàng cấm (nếu có);

– Giá do doanh nghiệp thẩm định giá cung cấp;

– Giá thị trường trong khu vực hoặc thế giới của hàng cấm do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thông báo hoặc cung cấp thông tin;

– Giá niêm yết, giá ghi trên hợp đồng hoặc hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu của tài sản tương tự được phép kinh doanh, lưu hành, sử dụng tại Việt Nam;

– Giá thị trường trong khu vực và thế giới của tài sản tương tự được phép kinh doanh, lưu hành, sử dụng tại các thị trường này;

– Các căn cứ khác giúp xác định giá trị của tài sản cần định giá do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự cung cấp và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tin cậy của các căn cứ này.

Bên cạnh các căn cứ định giá tài sản nêu trên, Nghị định 30/2018/NĐ-CP nêu rõ các mức giá từ các nguồn thông tin quy định nêu trên được xác định tại thời điểm và tại nơi tài sản được yêu cầu định giá. Trường hợp thu thập nguồn thông tin về mức giá tài sản tại thời điểm khác hoặc ở địa phương khác thì mức giá đó cần được điều chỉnh phù hợp về thời điểm và nơi tài sản được yêu cầu định giá.

Như vậy, Nghị định số 30/2018/NĐ-CP được đánh giá đã bổ sung và hoàn thiện tương đối đầy đủ các căn cứ định giá tài sản trong tố tụng hình sự, từ đó hỗ trợ tốt hơn cho việc thực hiện công tác điều tra, xử lý hành vi phạm tội cũng như có ý nghĩa quan trọng trong việc thi hành án hình sự.