Ngành thủy sản Việt Nam có nhiều lợi thế và cơ hội xuất khẩu khi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đi vào thực thi.
Ông Vương Đức Anh, Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương cho biết, CPTPP và EVFTA là các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, với giá trị cốt lõi là tạo thuận lợi thương mại thông qua việc cắt giảm thuế quan.
Đối với mặt hàng thủy sản, Hiệp định EVFTA sẽ xóa bỏ thuế quan hoàn toàn (trừ cá ngừ đóng hộp và cá viên) với lộ trình dài nhất là 7 năm, cá ngừ đóng hộp áp dụng hạn ngạch thuế quan là 11.500 tấn; trong Hiệp định CPTPPP, Canada và Peru sẽ xóa bỏ thuế quan hoàn toàn về 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực, một số nước khác cắt giảm thuế theo lộ trình, lâu nhất là 16 năm.
Theo ông Vương Đức Anh, việc ký kết EVFTA và CPTPP là cơ hội để các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu, đặc biệt là các thị trường mới như Canada, Peru, Mexico…Đồng thời, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam so với nhiều đối thủ chưa tham gia các FTA.
Tương tự với mặt hàng tôm, Việt Nam hiện đang đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu tôm với thị phần 14%, đứng đầu là Ấn Độ với 15% thị phần. Tuy nhiên, Ấn Độ không phải thành viên CPTPP, quá trình đàm phán FTA giữa Ấn Độ và EU cũng đang bị tạm ngưng.
Các chuyên gia nhận định, ngành thủy sản Việt Nam cũng có thêm nhiều cơ hội nâng cao công nghệ sản xuất và chất lượng sản phẩm, tham gia vào chuỗi cung ứng khu vực và đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu. Đặc biệt, việc tham gia các FTA thế hệ mới yêu cầu Nhà nước phải cải cách thể chế, từ đó doanh nghiệp có môi trường kinh doanh ổn định và minh bạch hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế, doanh nghiệp Việt Nam cũng phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài ngay tại thị trường nội địa; đối mặt với các các hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và quy tắc xuất xứ khá chặt chẽ. Để tận dụng tốt lợi thế mà EVFTA và CPTPP mang lại, các chuyên gia khuyến nghị doanh nghiệp cần chủ động trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh trong trung và dài hạn, nhanh chóng đổi mới công nghệ để có thể tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu mới có thể phát triển bền vững./.
Nguồn: VASEP
Ngày 12/05/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 66/2018/NĐ-CP quy định về chế độ ưu tiên đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Kiểm toán nhà nước. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.
Theo đó, Nghị định số 66/2018/NĐ-CP quy định về chế độ ưu tiên đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Kiểm toán nhà nước như sau:
1. Hàng năm, căn cứ vào kết quả thực hiện kiến nghị kiểm toán, Kiểm toán Nhà nước được trích 5% số tiền do Kiểm toán nhà nước phát hiện và kiến nghị theo quy định. Kiểm toán Nhà nước sử dụng số kinh phí 5% để chi cho các nội dung sau: Chi khuyến khích, thưởng cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Kiểm toán nhà nước không vượt quá 0,8 lần mức lương do Nhà nước quy định.
2. Số kinh phí còn lại sau khi chi khuyến khích, thưởng cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Kiểm toán nhà nước được sử dụng để đầu tư cơ sở vật chất và tăng cường năng lực hoạt động của ngành.
Có thể thấy, Nghị định số 66/2018/NĐ-CP đã có những quy định cụ thể và rõ ràng về chế độ ưu tiên đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Kiểm toán Nhà nước, qua đó thể hiện rõ sự quan tâm, khuyến khích đối với các đối tượng này nhằm nâng cao tinh thần, chất lượng đời sống cho các cán bộ nhân viên, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người lao động.
Ngày 10/05/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Công văn số 602/TTg-CN về một số giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác, kinh doanh, xuất khẩu tài nguyên cát. Công văn này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các nội dung cụ thể như sau:
1. Không xuất khẩu khoáng sản thô (bao gồm cả cát); chỉ xuất khẩu các loại sản phẩm đã qua chế biến sâu, có giá trị. Đối với sản phẩm cát trắng silic, cát vàng làm khuôn đúc đã qua sơ chế nhưng đã ký hợp đồng xuất khẩu với đối tác nước ngoài trước ngày 15/9/2017, phù hợp với các quy định của pháp luật về xuất khẩu hiện hành được tiếp tục xuất khẩu.
2. Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan đánh giá tổng thể về cung cầu cát trắng silic trên thế giới và trong nước; phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất giải pháp khai thác, chế biến, sử dụng hiệu quả, bền vững phục vụ phát triển kinh tế-xã hội; khẩn trương điều chỉnh quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
3. Bộ Xây dựng thống nhất với Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về điều kiện xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng phù hợp với quy định; chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan xây dựng cơ chế chính sách về thuế tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý tài nguyên cát.
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Xây dựng và các Bộ liên quan nghiên cứu tổng thể quy hoạch các loại khoáng sản, trong đó có cát.
Có thể thấy, thông qua việc ban hành Công văn số 602/TTg-CN, Thủ tướng Chính phủ đã có những chỉ đạo cụ thể và kịp thời, qua đó góp phần tăng cường hiệu quả quản lý của các cơ quan Nhà nước đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên cát phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời đảm bảo giảm thiểu những tác động xấu đến môi trường.
Ngày 15/05/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 19/2018/NQ-CP quy định về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo. Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Nghị quyết số 19/2018/NQ-CP quy định chi tiết về vấn đề cái cách môi trường cạnh tranh của 25 cơ quan chức năng bộ, ban ngành về cách thức nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, trong đó, nhiệm vụ của Bộ kế hoạch và đầu tư như sau:
1. Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan: Tài chính, Lao động – Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các cơ quan liên quan cải thiện thứ hạng chỉ số Khởi sự kinh doanh theo đúng mục tiêu đã định;
2. Kiến nghị giảm tối thiểu 50% phí công bố thông tin doanh nghiệp;
3. Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp chậm nhất vào tháng 6/2019.
4. Chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các bộ, ngành liên quan báo cáo Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội danh mục ngành nghề loại bỏ khỏi Danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện;
5. Chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao đăng tải thông tin các vụ việc về phá sản, danh sách chủ nợ tại Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Như vậy, có thể thấy, Nghị quyết số 19/2018/NQ-CP đã đưa ra định hướng để cắt giảm các điều kiện kinh doanh cũng như mức phí trong hoạt động công bố thông tin của doanh nghiệp, từ đó mở rộng quyền tự do kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam.
Ngày 15/05/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 71/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ về vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.
Theo đó, Nghị định số 71/2018/NĐ-CP quy định về trình độ chuyên trong hoạt động vật liệu nổ công nghiệp như sau:
1. Người quản lý phải có trình độ đại học trở lên thuộc chuyên ngành kỹ thuật về hoá chất, vũ khí đạn, công nghệ hóa học về thuốc phóng, thuốc nổ, công binh, khai thác mỏ, kỹ thuật mỏ, địa chất, xây dựng công trình, giao thông, thủy lợi, địa vật lý hoặc dầu khí.
2. Người làm công tác phân tích, thử nghiệm vật liệu nổ công nghiệp phải có trình độ trung cấp trở lên thuộc chuyên ngành kỹ thuật về hoá chất, vũ khí đạn, công nghệ hóa học về thuốc phóng, thuốc nổ, công binh, khai thác mỏ, kỹ thuật mỏ, địa chất hoặc khoan nổ mìn.
3. Chỉ huy nổ mìn phải có trình độ từ trung cấp trở lên thuộc chuyên ngành kỹ thuật. Cụ thể, đối với chuyên ngành kỹ thuật về vũ khí đạn, công nghệ hóa học về thuốc phóng, thuốc nổ, công binh, khai thác mỏ, kỹ thuật mỏ, địa chất, xây dựng công trình, giao thông, thủy lợi, địa vật lý, dầu khí hoặc khoan nổ mìn, chỉ huy nổ mìn phải có thời gian trực tiếp sử dụng vật liệu nổ công nghiệp tối thiểu 1 năm đối với người có trình độ đại học trở lên và tối thiểu 2 năm đối với người có trình độ trung cấp, cao đẳng; đối với chuyên ngành kỹ thuật khác, chỉ huy nổ mìn phải có thời gian trực tiếp sử dụng vật liệu nổ công nghiệp tối thiểu 2 năm đối với người có trình độ đại học trở lên và tối thiểu 3 năm đối với người có trình độ trung cấp, cao đẳng.
4. Thợ mìn phải có trình độ từ sơ cấp trở lên thuộc chuyên ngành kỹ thuật về vũ khí đạn, công nghệ hóa học về thuốc phóng, thuốc nổ, công binh, khai thác mỏ, kỹ thuật mỏ, địa chất, xây dựng công trình, giao thông, thủy lợi, địa vật lý, dầu khí hoặc khoan nổ mìn hoặc từ trung cấp trở lên nếu thuộc các chuyên ngành khác. Thợ mìn phải có thời gian làm công việc phục vụ nổ mìn tối thiểu 6 tháng.
Bằng những quy định chi tiết và cụ thể, Nghị định số 71/2018/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ tạo ra khuôn khổ pháp lý cần thiết, qua đó góp phần sàng lọc cũng như nâng cao trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm của những người hoạt động trong lĩnh vực mang tính đặc thù liên quan đến vật liệu nổ công nghiệp, đồng thời thắt chặt, nâng cao sự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực này.
Ngày 07/05/2018, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 10/2018/QĐ-UBND về việc ban hành quy định việc áp dụng cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông trong cung ứng dịch vụ công tại các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp, hợp tác xã tại thành phố Hà Nội. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 17/05/2018.
Theo đó, Quyết định số 10/2018/QĐ-UBND quy định nguyên tắc áp dụng cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông như sau:
1. Công khai đầy đủ, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ khai thác, sử dụng các thủ tục dịch vụ công theo Quyết định phê duyệt của Ủy ban nhân dân Thành phố.
2. Bảo đảm việc cung ứng dịch vụ công nhanh chóng, thuận tiện cho cá nhân, tổ chức.
3. Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận, cá nhân trong quá trình cung ứng dịch vụ công.
4. Việc thu phí, giá dịch vụ được thực hiện theo đúng quy định.
Bằng những quy định chi tiết và cụ thể về nguyên tắc, Quyết định số 10/2018/QĐ-UBND có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Ngày 08/05/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 22/2018/QĐ-TTg về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.
Theo đó, Quyết định số 22/2018/QĐ-TTg đã đưa ra một số nội dung quan trọng nổi bật như sau:
1. Quy định rõ về việc xử lý hương ước, quy ước vi phạm (có nội dung trái pháp luật, trái với đạo đức xã hội, trái phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình được áp dụng tại địa phương đã được Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt hoặc phong tục tập quán tốt đẹp khác theo quy định của pháp luật hoặc vi phạm quy định về biểu quyết thông qua, công nhận hương ước, quy ước). Theo đó, hương ước, quy ước vi phạm sẽ bị xử lý bằng các hình thức tạm ngừng thực hiện, bãi bỏ. Thẩm quyền, căn cứ, thời hạn xử lý hương ước, quy ước vi phạm cũng được quy định rõ trong Quyết định này.
2. Cơ quan thực hiện quản lý, chủ trì, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước được giao cho Bộ và Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Bộ và Ngành Tư pháp có trách nhiệm phối hợp trong kiểm tra, kiến nghị việc xử lý hương ước, quy ước vi phạm do có nội dung trái pháp luật, xâm phạm các quyền con người, quyền công dân.
3. Quy định kinh phí thực hiện nhiệm vụ xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước theo hướng ngân sách nhà nước bảo đảm cho các hoạt động quản lý nhà nước; cộng đồng dân cư tự bảo đảm kinh phí xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước; khuyến khích việc hỗ trợ, đóng góp kinh phí, điều kiện cần thiết khác trong xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước.
Thông qua các quy định cụ thể và chi tiết, Quyết định số 22/2018/QĐ-TTg đã ghi nhận tính pháp lý của một hình thức pháp luật được sử dụng phổ biến tại nhiều địa phương là tập quán pháp, qua đó nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của mọi công dân, hỗ trợ các cơ quan nhà nước trong việc xử lý các vụ việc chưa có văn bản pháp luật điều chỉnh.
Ngày 15/05/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 68/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.
Theo đó, Nghị định số 68/2018/NĐ-CP quy định về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại như sau:
1. Nếu người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây thiệt hại nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải hoàn trả với mức:
– Nếu số tiền nhà nước đã bồi thường cao hơn 100 tháng lương của người thi hành công vụ thì mức hoàn trả là 50 tháng lương của người đó;
– Nếu số tiền nhà nước đã bồi thường từ trên 80 đến 100 tháng lương của người thi hành công vụ thì mức hoàn trả từ 40 đến dưới 50 tháng lương nhưng tối đa 50% số tiền mà Nhà nước bồi thường;
– Nếu số tiền nhà nước đã bồi thường từ 60 đến 80 tháng lương của người thi hành công vụ thì mức hoàn trả từ 30 đến dưới 40 tháng lương nhưng tối đa 50% số tiền mà Nhà nước đã bồi thường;
– Nếu số tiền nhà nước đã bồi thường thấp hơn 60 tháng lương của người thi hành công vụ thì mức hoàn trả bằng 50% số tiền Nhà nước đã bồi thường.
Lương để hoàn trả là lương cơ sở nhân với hệ số theo ngạch, bậc tại thời điểm có quyết định hoàn trả; trường hợp đã nghỉ việc thì việc hoàn trả căn cứ vào lương của người đó tại thời điểm trước khi nghỉ việc.
Bằng các quy định cụ thể và chi tiết, Nghị định số 68/2018/NĐ-CP có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao tinh thần trách nhiệm của người thi hành công vụ, góp phần xây dựng bộ máy quản lý Nhà nước hiệu quả.
Ngày 09/05/2018, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 106/KH-UBND về triển khai thi hành Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội. Kế hoạch này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Kế hoạch số 106/KH-UBND đã đề ra những nhiệm vụ hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội như sau:
1. Tuyên truyền phổ biến Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và các văn bản pháp luật liên quan;
2. Hỗ trợ tiếp cận tín dụng;
3. Hoàn thiện mô hình tổ chức, cơ chế vận hành của Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố theo Nghị định số 34/2018/NĐ-CP;
4. Hỗ trợ thuế, kế toán;
5. Hỗ trợ mặt bằng sản xuất;
6. Hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung;
7. Hỗ trợ mở rộng thị trường;
8. Hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp lý;
9. Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực;
10. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh;
11. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo;
12. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị
Như vậy, có thể thấy, các nhiệm vụ được đề ra trong Kế hoạch số 106/KH-UBND đã bao quát toàn bộ những khó khăn mà doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể gặp phải và đề ra biện pháp hỗ trợ, từ đó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này phát triển, tăng sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.