Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Điều kiện cấp giấy phép tư vấn thiết kế công trình nhà máy điện gió, điện mặt trời
Trả lời

Ngày 05/02/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 17/2020/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công Thương. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 22/03/2020.
Liên quan đến lĩnh vực điện lực, Nghị định số 17/2020/NĐ-CP có sửa đổi bổ sung một số điều, khoản của Nghị định số 137/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện lực và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực và Nghị định số 08/2018/NĐ-CP sửa đổi một số Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.
Theo đó, liên quan đến điều kiện cấp giấy phép tư vấn thiết kế công trình nhà máy điện gió và điện mặt trời, tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật đăng ký hoạt động trong lĩnh vực trên phải đáp ứng các điều kiện sau:
1. Chuyên gia tư vấn đảm nhận chức danh chủ nhiệm phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên chuyên ngành điện hoặc năng lượng tái tạo; có kinh nghiệm công tác ít nhất 05 năm trong lĩnh vực tư vấn; đã chủ nhiệm ít nhất 01 dự án hoặc tham gia thiết kế ít nhất 02 dự án nhà máy điện gió, điện mặt trời có hạng tương đương; có chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng trong lĩnh vực thiết kế hạng tương đương.
2. Chuyên gia tư vấn khác phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các chuyên ngành trắc địa, địa chất, xây dựng, năng lượng tái tạo, điện xây dựng, năng lượng tái tạo, điện, hệ thống điện, thiết bị điện, tự động hóa; có kinh nghiệm công tác ít nhất 05 năm trong lĩnh vực tư vấn; đã tham gia thiết kế ít nhất 01 dự án nhà máy điện gió, điện mặt trời có hạng tương đương; có chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng trong lĩnh vực thiết kế hạng tương đương.”
Việc ban hành Nghị định 17/2020/NĐ-CP là cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế – xã hội diễn ra không chỉ trong phạm vi quốc gia và quốc tế dẫn tới các đường lối, quy định về quản lý các điều kiện trong một số lĩnh vực kinh doanh nhất định cũng cần phải thay đổi để phù hợp với tình hình hiện tại.

Bản Tin Pháp Luật Số 08/2020
Trả lời

Hướng dẫn về việc cấp Giấy chứng nhận cho Condotel
Trả lời

Ngày 14/02/2020 vừa qua, Bộ Tài nguyên Môi trường đã ban hành Công văn số 703/BTNMT-TCQLĐĐ/NĐ-CP hướng dẫn về việc sử dụng đất và chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng không phải là nhà ở, trong đó có công trình căn hộ du lịch (Condotel)
Theo đó kể từ ngày 14/02/2020, thời điểm ban hành Công văn nêu trên, các tỉnh, thành phố sẽ căn cứ vào nội dung hướng dẫn tại Công văn đề rà soát các Dự án để xác định mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, nếu đủ điều kiện thì xem xét cấp Giấy chứng nhận. Cụ thể:
Căn hộ du lịch, biệt thự du lịch được xác định là cơ sở lưu trú du lịch theo quy định của Luật du lịch năm 2017, và việc sử dụng đất được xác định tương ứng là loại đất thương mại, dịch vụ. Theo đó, thời hạn cho thuê đất tối đa là không quá 50 năm, đối với các địa bàn có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn thì thời hạn không quá 70 năm.
Các dự án có công trình căn hộ du lịch, biệt thự du lịch khi có đủ điều kiện chuyển nhượng theo Luật kinh doanh bất động sản thì việc chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng sẽ được thực hiện theo các quy định tại Điều 32 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.
Như vậy với việc Công văn số 703 được ban hành, Bộ TN MT đã phần nào tháo gỡ các vướng mắc về pháp lý cho hoạt động đầu tư các Dự án du lịch nghỉ dưỡng trên địa bàn cả nước, khuyến khích các nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực bất động sản nghỉ dưỡng, góp phần phát triển dịch vụ du lịch trên cả nước.

Một số quy định mới về đấu giá hạn ngạch thuế quan nhập khẩu ô tô đã qua sử dụng
Trả lời

Ngày 22/01/2020, Bộ Công thương đã ban hành Thông tư số 04/2020/TT-BCT quy định về đấu giá hạn ngạch thuế quan nhập khẩu ô tô đã qua sử dụng theo Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định CPTPP). Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 05/3/2020.
Thông tư số 04/2020/TT-BCT có một số nội dung chính như sau:
1. Ô tô đã qua sử dụng nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan phải tuân thủ theo các quy định sau:
– Được đăng ký lưu hành tại nước xuất khẩu trước khi về đến cửa khẩu Việt Nam theo quy định của pháp luật;
– Đáp ứng quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định CPTPP và phải có Giấy chứng nhận xuất xứ khi làm thủ tục nhập khẩu;
– Đáp ứng các quy định của pháp luật về quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với ô tô, các quy định về cửa khẩu nhập khẩu ô tô;
– Chủng loại ô tô nhập khẩu phải phù hợp với nội dung của Giấy phép kinh doanh nhập khẩu ô tô theo quy định của pháp luật.
2.  Hạn ngạch thuế quan nhập khẩu ô tô đã qua sử dụng được phân giao trên cơ sở đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá.
3. Thương nhân nhập khẩu ô tô đã qua sử dụng phải được Bộ Công Thương cấp Giấy phép kinh doanh nhập khẩu ô tô. Đối với trường hợp không có Giấy phép này nhưng tham gia đấu giá và trúng đấu giá thì thương nhân phải ủy thác cho doanh nghiệp có Giấy phép thực hiện nhập khẩu.
Thông tư số 04/2020/TT-BCT của Bộ Công thương có hiệu lực vào 05/3/2020 tới đây sẽ khiến cho thị trường ô tô nhập khẩu tại Việt Nam có những biến động nhất định.

Quy định mới về quyền khai thác cát, sỏi lòng sông
Trả lời

Ngày 24/02/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 23/2020/NĐ-CP quy định về quản lý cát, sỏi lòng sông và bảo vệ lòng, bờ, bãi sông. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 10/04/2020.
Theo đó, Nghị định số 23/2020/NĐ-CP đã có nhiều quy định quản lý chặt chẽ liên quan tới quy hoạch vùng cát, sỏi lòng sông; thăm dò, khai thác, tập kết, vận chuyển, kinh doanh và sử dụng cát, sỏi lòng sông, cụ thể như sau:
1. Nội dung quy hoạch vùng quản lý cát, sỏi lòng sông
– Tiềm năng tài nguyên cát, sỏi lòng sông trong lưu vực sông
– Các yêu cầu về bảo vệ môi trường; bảo vệ lòng, bờ, bãi sông; phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu trong vùng.
– Các quan điểm, mục tiêu phát triển của quy hoạch vùng sẽ định hướng cho hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng cát, sỏi lòng sông thuộc lưu vực.
– Định hướng cho hoạt động thăm dò, khai thác cát, sỏi lòng sông trên lưu vực sông thuộc vùng lập quy hoạch về thời gian, tổng công suất được cấp phép khai thác trên địa bàn của địa phương liên quan trong kỳ quy hoạch.
2. Cấp phép thăm dò, khai thác cát, sỏi lòng sông
– Việc cấp phép được thực hiện thông qua hình thức đấu giá quyền khai thác khoáng sản
– Trường hợp khu vực cấp phép lòng sông nằm giáp ranh từ 02 tỉnh trở lên thì phải xin ý kiến của tất cả các UBND tỉnh mà sông đi qua.
– Thời gian khai thác: từ 07 giờ sáng đến 05 giờ chiều; không được khai thác ban đêm và phải quy định rõ tổng thời gian khai thác trong năm trong giấy phép.
3. Yêu cầu về kinh doanh và sử dụng cát, sỏi lòng sông trong quá trình vận chuyển
Trong quá trình vận chuyển cát, sỏi trên sông, chủ phương tiện phải mang theo hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc của cát, sỏi là hợp pháp, trong đó bao gồm các thông tin về dữ liệu, sổ sách, chứng từ về khối lượng cát, sỏi đang vận chuyển.
Như vậy, Nghị định 23/2020/NĐ-CP đã cho thấy nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc cụ thể hóa Luật Quy hoạch 2017 bằng cách quy định nội dung, phạm vi của quy hoạch vùng đối với cát, sỏi lòng sông. Đồng thời, Nghị định 23/2020/NĐ-CP cũng có nhiều quy định cụ thể, rõ ràng về điều kiện, trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động thăm dò, khai thác, tập kết, vận chuyển, kinh doanh và sử dụng cát, sỏi lòng sông. Điều này không chỉ góp phần đặt ra khung pháp lý cụ thể, rõ ràng trước vấn nạn khai thác cát, sỏi lòng sông trái phép như hiện nay mà còn tạo điều kiện để hoạt động khai thác này diễn ra hiệu quả, tránh lãng phí theo quy hoạch.

Cấm Thừa phát lại lập vi bằng với “mua bán nhà đất giấy tờ tay”.
Trả lời

Ngày 08/01/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại.
Theo đó, nội dung nổi bật đáng chú ý là quy định về việc cấm Thừa phát lại lập vi bằng với “mua bán nhà đất giấy tờ tay”. Chi tiết theo khoản 4 Điều 37 Nghị định 08/2020:
“Điều 37. Các trường hợp không được lập vi bằng
…..
4. Xác nhận nội dung, việc ký tên trong hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định thuộc phạm vi hoạt động công chứng, chứng thực; xác nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt; xác nhận chữ ký, bản sao đúng với bản chính.”
Như vậy, các giao dịch mua bán nhà đất thông qua giấy tay sẽ không có giá trị pháp lý mặc dù được Thừa phát lại lập vi bằng. Bởi vì, theo quy định tại Luật đất đai 2013 bắt buộc hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013.
Có thể thấy rằng, Nghị định 08/2020 cấm Thừa phát lại lập vi bằng đối với trường hợp các bên mua bán nhà đất giấy tờ tay là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, góp phần ngăn chặn các giao dịch mua bán nhà đất không đúng quy định pháp luật, người dân sẽ nói không với việc mua nhà đất bằng giấy tờ tay nhằm tránh thiệt hại cho bản thân và các rủi ro pháp lý liên quan.
Nghị định 08/2020 có hiệu lực kể từ ngày 24/02/2020.

Thêm trường hợp được miễn lệ phí môn bài từ ngày 25/02/2020
Trả lời

Ngày 24/02/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2020/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 139/2016/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2016 quy định về Lệ phí môn bài.
Theo đó, bổ sung 03 đối tượng được miễn lệ phí môn bài mới, bao gồm:
Miễn lệ phí môn bài trong năm đầu thành lập hoặc ra sản xuất kinh doanh (từ ngày 01/01 đến ngày 31/12) đối với:
Tổ chức thành lập mới (được cấp mã số thuế mới, mã số doanh nghiệp mới);
Hộ gia đình, cá nhân, nhóm cá nhân lần đầu ra hoạt động sản xuất, kinh doanh;
Miễn lệ phí môn bài trong 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển từ hộ kinh doanh;
Miễn lệ phí môn bài trong toàn bộ quá trình hoạt động đối với cơ sở giáo dục phổ thông công lập và cơ sở giáo dục mầm non công lập.
Trong thời gian miễn lệ phí môn bài, nếu tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, nhóm cá nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa nêu trên thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh thì các địa điểm này cũng được miễn lệ phí môn bài trong thời gian tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, nhóm cá nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa được miễn lệ phí môn bài.
Chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa (thuộc diện miễn lệ phí môn bài theo quy định tại Điều 16 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa) được thành lập trước ngày 25/02/2020 thì thời gian miễn lệ phí môn bài của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh được tính từ ngày 25/02/2020 đến hết thời gian doanh nghiệp nhỏ và vừa được miễn lệ phí môn bài.
Có thể nói, những điểm mới trong Nghị định 22/2020/NĐ-CP về các trường hợp được miễn lệ phí môn bài mới đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp, giảm chi phí đầu vào, thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp mới thành lập, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh, cá nhân, nhóm cá nhân, đặc biệt là ngành giáo dục. Nghị định này chính thức có hiệu lực kể từ ngày 25/02/2020.

Bổ sung địa điểm không được uống rượu bia
Trả lời

Ngày 24/02/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Trước đó, tại Điều 10 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia 2019 có quy định về địa điểm không uống rượu bia, bao gồm các địa điểm sau:
Cơ sở y tế.
Cơ sở giáo dục trong thời gian giảng dạy, học tập, làm việc.
Cơ sở, khu vực chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi, giải trí dành cho người chưa đủ 18 tuổi.
Cơ sở cai nghiện, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở giam giữ phạm nhân và cơ sở giam giữ khác.
Cơ sở bảo trợ xã hội.
Nơi làm việc của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập trong thời gian làm việc, trừ địa điểm được phép kinh doanh rượu, bia.
Các địa điểm công cộng theo quy định của Chính phủ.
Đối với các địa điểm công cộng theo quy định của Chính phủ được quy định chi tiết hơn tại Điều 3, Nghị định 24/2020/NĐ-CP, cụ thể:
Công viên, trừ trường hợp nhà hàng trong phạm vi khuôn viên của công viên đã được cấp phép kinh doanh rượu, bia trước ngày Nghị định này có hiệu lực.
Nhà chờ xe buýt.
Rạp chiếu phim, nhà hát, cơ sở văn hóa, thể thao trong thời gian tổ chức các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ và công năng sử dụng chính của các địa điểm này, trừ trường hợp tổ chức các lễ hội ẩm thực, văn hóa có sử dụng rượu, bia.
Việc ban hành Nghị định 24/2020/NĐ-CP là một việc làm mang tính cần thiết và kịp thời. Bởi lẽ, nó thể hiện sự nỗ lực của Nhà nước ta trong việc hạn chế tiêu thụ rượu, bia từ đó có thể giảm thiểu những tác động tiêu cực của rượu, bia tác động tới xã hội, trong đó có việc giảm thiểu tai nạn giao thông. Bên cạnh đó, Nghị định 24/2020/NĐ-CP còn mang ý nghĩa quan trọng trong việc thay đổi thói quen sử dụng rượu bia của người Việt.

Bản Tin Pháp Luật Số 07/2020
Trả lời

Điều kiện để hàng hóa được áp dụng thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam
Trả lời

Ngày 05/01/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 07/2020/NĐ-CP về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN – Hồng Kông, Trung Quốc giai đoạn 2019 – 2022.
Theo đó, hàng hóa nhập khẩu được áp dụng thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt (AHKFTA) phải đáp ứng đủ bốn điều kiện sau:
1. Thuộc Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt ban hành kèm theo Nghị định này;
2. Được nhập khẩu từ các nước là thành viên của Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN – Hồng Kông, Trung Quốc;
3. Được vận chuyển trực tiếp từ nước xuất khẩu theo quy định của Hiệp định AHKFTA và quy định của Bộ Công Thương. Cụ thể:
(i) Hàng hóa được vận chuyển trực tiếp từ một nước thành viên xuất khẩu tới một nước thành viên nhập khẩu; hoặc
(ii) Hàng hóa được vận chuyển qua một hoặc nhiều nước thành viên khác hoặc qua một nước không phải là thành viên và đáp ứng các điều kiện sau:
– Hàng hóa quá cảnh là cần thiết vì lý do địa lý hoặc do yêu cầu về vận tải;
– Hàng hóa không tham gia vào giao dịch thương mại hoặc tiêu thụ tại đó;
– Hàng hóa không trải qua bất kỳ công đoạn gia công, chế biến nào khác ngoài việc dỡ hàng và bốc lại hàng hoặc những công đoạn cần thiết để bảo quản hàng hóa trong điều kiện tốt.
4. Đáp ứng các quy định về xuất xứ hàng hóa và có Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) mẫu AHK theo quy định của Hiệp định AHKFTA và quy định của Bộ Công Thương.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 20/02/2020. Riêng đối với các tờ khai hải quan của mặt hàng nhập khẩu đăng ký từ ngày 11/6/2019 đến trước ngày 20/2/2020, nếu đáp ứng đủ các điều kiện để được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt quy định tại Nghị định này và nếu đã nộp thuế theo mức thuế cao hơn thì được cơ quan hải quan xử lý tiền nộp thừa theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.