Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Xử lý Hợp đồng lao động vô hiệu
Trả lời

Ngày 14/12/2020, Chính phủ ban Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động. Theo đó, Nghị định này quy định về việc xử lý Hợp đồng lao động (HĐLĐ) vô hiệu như sau:

  • Đối với HĐLĐ vô hiệu từng phần: Khi HĐLĐ bị tuyên bố vô hiệu từng phần, người sử dụng lao động và người lao động tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của HĐLĐ bị tuyên bố vô hiệu cho phù hợp với thỏa ước lao động tập thể và pháp luật. Trường hợp hai bên không thống nhất sửa đổi, bổ sung các nội dung đã bị tuyên bố vô hiệu thì thực hiện chấm dứt HĐLĐ;
  • Đối với HĐLĐ vô hiệu toàn bộ, cách thức xử lý như sau:
  1. HĐLĐ vô hiệu toàn bộ do người giao kết không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, người lao động và người sử dụng lao động ký lại HĐLĐ theo đúng quy định của pháp luật. Trường hợp không ký lại HĐLĐ bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì thực hiện chấm dứt HĐLĐ;
  2. HĐLĐ vô hiệu toàn bộ do toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động vi phạm pháp luật hoặc công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc mà pháp luật cấm: Khi HĐLĐ bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, người lao động và người sử dụng lao động giao kết HĐLĐ mới theo đúng quy định của pháp luật. Trường hợp hai bên không giao kết HĐLĐ mới thì thực hiện chấm dứt HĐLĐ.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 02 năm 2021.

 

Bản Tin Pháp Luật Số 01/2021
Trả lời

Tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật
Trả lời

Ngày 17/06/2020, Luật Doanh Nghiệp 2020 mới đã được Quốc Hội thông qua thay thế Luật Doanh Nghiệp 2014, có hiệu lực kể từ ngày ngày 01 tháng 01 năm 2021.

Một trong những điểm tiêu biểu tại Luật Doanh nghiệp 2020 đó chính là quy định về người đại diện theo pháp luật. Cụ thể như sau:

Tại Khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “2. Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.”

Tại Khoản 2 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “2. Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Nếu công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ công ty quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật. Trường hợp việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật chưa được quy định rõ trong Điều lệ công ty thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba; tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.”

Như vậy, có thể thấy rằng, Luật Doanh nghiệp 2020 đã có những quy định rõ ràng, cụ thể hơn ở những điểm sau đây:

+ Nếu công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ sẽ là văn bản phạm vi quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật;

+ Trường hợp việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật chưa được quy định rõ trong Điều lệ công ty thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba;

+ Tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Hy vọng thông tin trên hữu ích với quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng bạn!

Kiểm soát viên không còn là chức danh trong cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty TNHH MTV do tổ chức làm chủ sử hữu
Trả lời

Ngày 17/06/2020, Luật Doanh Nghiệp 2020 mới đã được Quốc Hôi thông qua thay thế Luật Doanh Nghiệp 2014, có hiệu lực kể từ ngày ngày 01 tháng 01 năm 2021.

Một trong những điểm tiêu biểu tại Luật Doanh nghiệp 2020 đó chính là quy định: Kiểm soát viên không còn là một trong những chức danh trong cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty TNHH MTV do tổ chức làm chủ sử hữu. Cụ thể như sau: 

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 79 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định Công ty TNHH MTV do tổ chức làm chủ sở hữu được tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây:

+ Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc;

+ Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.

Trước đó, theo Khoản 1 Điều 78 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: Công ty TNHH MTV do tổ chức làm chủ sở hữu được tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây:

+ Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên;

+ Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên;

Như vậy, kể từ ngày 01/01/2021 trở đi, chức danh Kiểm soát viên không còn trong bộ máy Công ty TNHH MTV do tổ chức làm chủ sở hữu nữa, đây được xem là một thay đổi có tích cực bởi vai trò của kiểm soát viên trong một Công ty TNHH MTV không phải là doanh nghiệp nhà nước là không quan trọng.

Hy vọng thông tin trên hữu ích với quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng bạn!

Giảm bớt thủ tục hành chính trong Luật Doanh nghiệp 2020
Trả lời

Ngày 17/06/2020, Luật Doanh Nghiệp 2020 mới đã được Quốc Hôi thông qua thay thế Luật Doanh Nghiệp 2014, có hiệu lực kể từ ngày ngày 1 tháng 1 năm 2021.

Một trong những điểm tiêu biểu tại Luật Doanh nghiệp 2020 đó chính là những quy định trong việc giảm bớt thủ tục hành chính trong Luật Doanh nghiệp 2020. Cụ thể như sau:

 

  1. Doanh nghiệp không phải thông báo Cơ Quan Đăng Ký Kinh Doanh về mẫu con dấu

 

Theo Khoản 2 Điều 44 của Luật Doanh Nghiệp 2014: Trước khi sử dụng con dấu, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Tại Điều 43 Luật Doanh nghiệp 2020 đã lược bỏ quy định này.

Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp 2020 cũng ghi nhận một số điểm mới có liên quan đến Dấu của doanh nghiệp, cụ thể như sau:

+ Ghi nhận hình thức dấu chữ ký số theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

+ Luật không quy định dấu phải thể hiện những nội dung gì mà để doanh nghiệp toàn quyền quyết định (Trước kia phải có tên và mã số doanh nghiệp). Theo đó, Doanh nghiệp tự quyết định quyết định: Loại dấu, số lượng, hình thức và nội dung dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện và đơn vị khác của doanh nghiệp. 

+ Việc quản lý và lưu trữ dấu: Do Điều lệ công ty hoặc quy chế do doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc đơn vị khác của doanh nghiệp có dấu ban hành. (Trước đó chỉ ghi nhận điều lệ).

Tuy nhiên, hiện quy định tại Điều 43 Luật Doanh nghiệp 2020 tồn tại bất cập: Không quy định rõ bằng cách nào để xác định con dấu của Doanh nghiệp nếu không có cơ sở dữ liệu công khai về mẫu con dấu.

          2. Công ty không phải thông báo Cơ Quan Đăng Ký Kinh Doanh các thay đổi đối với người quản lý của công ty 

Lược bỏ Điều 12 của Luật Doanh Nghiệp 2014, cụ thể trước đó quy định: Doanh nghiệp phải báo cáo Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp có trụ sở chính trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có thay đổi thông tin về họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của những người sau đây:

+ Thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần;

+ Thành viên Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên;

+ Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.

 

Tóm lại, kể từ năm 2000 đến nay, Việt Nam đã có 04 phiên bản Luật Doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp 1999; Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Doanh nghiệp 2014; Luật Doanh nghiệp 2020). Việc thay đổi có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, có cả những tích cực lẫn tiêu cực. Tuy nhiên, chắc chắn một điều rằng, việc ra đời Luật Doanh nghiệp 2020 ít nhiều sẽ ảnh hưởng, tác động đến tình hình đầu tư, kinh doanh của các Doanh nghiệp tại Việt Nam. 

Hy vọng thông tin trên hữu ích với Quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!

Kéo dài thời hạn góp vốn bằng tài sản
Trả lời

Ngày 17/06/2020, Luật Doanh Nghiệp 2020 mới đã được Quốc Hôi thông qua thay thế Luật Doanh Nghiệp 2014, có hiệu lực kể từ ngày ngày 1 tháng 1 năm 2021.

Một trong những điểm tiêu biểu tại Luật Doanh nghiệp 2020 đó chính là quy định về kéo dài thời hạn góp vốn bằng tài sản của thành viên góp vốn/cổ đông sáng lập, cụ thể như sau:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 48 Luật Doanh Nghiệp 2014 quy định: Thành viên phải góp vốn phần vốn góp cho công ty đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không có bất kỳ ngoại lệ. 

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: Thành viên phải góp vốn cho công ty đủ và đúng loại tài sản đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không kể thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản. 

Điều này có nghĩa là: Luật Doanh nghiệp 2020 cho phép các thành viên/cổ đông sáng lập, nếu góp vốn bằng tài sản được phép trừ đi khoảng thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản khi xác định thời hạn góp vốn ra khỏi khung thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. 

Về ưu điểm: Cách tiếp cận này của Luật 2020 đã giải quyết một vấn đề thực tiễn đó là: Việc góp vốn bằng tài sản thường đòi hỏi thời gian dài hơn.

Về nhược điểm: Mặc dù tiến bộ nhưng quy định này lại chưa làm rõ được một số vấn đề pháp lý như sau:

+ Thứ nhất, đối tượng được phép kéo dài thời hạn góp vốn: Quy định không nêu rõ liệu thời hạn kéo dài đó chỉ áp dụng cho các thành viên/cổ đông góp vốn bằng tài sản hay áp dụng cho cả các thành viên/cổ đông góp vốn bằng tiền mặt. 

+ Thứ hai, thời hạn tối đa cho việc góp vốn: Quy định không đưa ra bất kỳ hạn chế nào lên thời hạn cần thiết để vận chuyển, nhập khẩu, thực tiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản. Điều này có thể dẫn đến một lỗ hổng lớn trong công tác quản lý về vấn đề góp vốn vào doanh nghiệp, thành viên/cổ đông góp vốn bằng tài sản có thể cố ý trì hoãn việc góp vốn bằng cách không thực hiện một cách kịp thời.

Tóm lại, kể từ năm 2000 đến nay, Việt Nam đã có 04 phiên bản Luật Doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp 1999; Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Doanh nghiệp 2014; Luật Doanh nghiệp 2020). Việc thay đổi có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, có cả những tích cực lẫn tiêu cực. Tuy nhiên, chắc chắn một điều rằng, việc ra đời Luật Doanh nghiệp 2020 ít nhiều sẽ ảnh hưởng, tác động đến tình hình đầu tư, kinh doanh của các Doanh nghiệp tại Việt Nam. 

Hy vọng thông tin trên hữu ích với Quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!

Hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp phải thực hiện chuyển giao quyền và nghĩa vụ
Trả lời

Ngày 17/06/2020, Luật Doanh Nghiệp 2020 mới đã được Quốc Hôi thông qua thay thế Luật Doanh Nghiệp 2014, có hiệu lực kể từ ngày ngày 1 tháng 1 năm 2021.

Một trong những điểm tiêu biểu tại Luật Doanh nghiệp 2020 đó chính là quy định có liên quan đến Hợp đồng xác lập trước thời điểm đăng ký doanh nghiệp. Cụ thể như sau:

 

  1. Theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 19 Luật Doanh Nghiệp 2014 quy định: 

 

  • Trường hợp doanh nghiệp được thành lập thì doanh nghiệp phải tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp các bên hợp đồng có thỏa thuận khác.
  • Trường hợp doanh nghiệp không được đăng ký thành lập thì người ký kết hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này chịu trách nhiệm hoặc người thành lập doanh nghiệp liên đới chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng đó.

      2. Theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: 

  • Trường hợp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp phải tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết quy định tại khoản 1 Điều này và các bên phải thực hiện việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp trong hợp đồng có thỏa thuận khác.
  • Trường hợp doanh nghiệp không được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, người ký kết hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng; trường hợp có người khác tham gia thành lập doanh nghiệp thì cùng liên đới chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng đó.

 

      3. Điều này có nghĩa là: Luật Doanh nghiệp 2020 đã bổ sung:

 

  • Trách nhiệm đối với các thành viên hoặc cổ đông sáng lập của một công ty phải thực hiện việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ hợp đồng cho công ty theo Bộ Luật Dân Sự ngay khi công ty được thành lập.
  • Yêu cầu tất cả các thành viên hoặc cổ đông sáng lập của một công ty (thay vì chỉ những người ký hợp đồng) phải liên đới chịu trách nhiệm đối với các hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp đã ký trong trường hợp công ty không được thành lập.

Tóm lại, kể từ năm 2000 đến nay, Việt Nam đã có 04 phiên bản Luật Doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp 1999; Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Doanh nghiệp 2014; Luật Doanh nghiệp 2020). Việc thay đổi có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, có cả những tích cực lẫn tiêu cực. Tuy nhiên, chắc chắn một điều rằng, việc ra đời Luật Doanh nghiệp 2020 ít nhiều sẽ ảnh hưởng, tác động đến tình hình đầu tư, kinh doanh của các Doanh nghiệp tại Việt Nam. 

Hy vọng thông tin trên hữu ích với quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng bạn!

Quy định về hình thức trả lương qua tài khoản ngân hàng
Trả lời

Ngày 14/12/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động. Theo đó, Nghị định này quy định về hình thức trả lương qua tài khoản ngân hàng như sau:

Căn cứ vào tính chất công việc và điều kiện sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trong hợp đồng lao động hình thức trả lương theo thời gian, theo sản phẩm và trả lương khoán.

Tiền lương của người lao động theo các hình thức trả lương như trên được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng. Đối với việc trả lương qua tài khoản cá nhân của người lao động, thì người sử dụng lao động phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương.

Như vậy, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thì người sử dụng lao động và người lao động không phải thỏa thuận về các loại phí liên quan đến việc mở, duy trì tài khoản ngân hàng, mà toàn bộ các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương cho người lao động sẽ phải do người sử dụng lao động chi trả nếu chọn hình thức trả lương qua tài khoản ngân hàng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 02 năm 2021.

 

Quy định về số lượng, thành phần tham gia đối thoại tại nơi làm việc
Trả lời

Ngày 14/12/2020, Chính phủ ban Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động. Theo đó, đối với hoạt động đối thoại tại nơi làm việc, Nghị định này quy định về số lượng, thành phần tham gia như sau:

  1. Bên Người sử dụng lao động “NSDLĐ”:

Căn cứ điều kiện sản xuất, kinh doanh, tổ chức lao động, NSDLĐ quyết định số lượng, thành phần tham gia đối thoại bảo đảm ít nhất 03 người, trong đó có người đại diện theo pháp luật của NSDLĐ và quy định trong quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.

        2. Bên Người lao động “NLĐ”:

Căn cứ điều kiện sản xuất, kinh doanh, tổ chức lao động, cơ cấu, số lượng lao động và các yếu tố bình đẳng giới, tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở và nhóm đại diện đối thoại xác định số lượng, thành phần tham gia đối thoại nhưng phải bảo đảm số lượng như sau:

  • Ít nhất 03 người, nếu NSDLĐ sử dụng dưới 50 NLĐ;
  • Ít nhất từ 04 người đến 08 người, nếu NSDLĐ sử dụng từ 50 NLĐ đến dưới 150 NLĐ;
  • Ít nhất từ 09 người đến 13 người, nếu NSDLĐ sử dụng từ 150 NLĐ đến dưới 300 NLĐ;
  • Ít nhất từ 14 người đến 18 người, nếu NSDLĐ sử dụng từ 300 NLĐ đến dưới 500 NLĐ;
  • Ít nhất từ 19 đến 23 người, nếu NSDLĐ sử dụng từ 500 đến dưới 1.000 NLĐ;
  • Ít nhất 24 người, nếu NSDLĐ sử dụng từ 1.000 NLĐ trở lên.

Căn cứ số lượng người đại diện đối thoại của bên NLĐ, tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở và nhóm đại diện đối thoại của NLĐ xác định số lượng đại diện tham gia đối thoại tương ứng theo tỷ lệ thành viên của tổ chức và nhóm mình trên tổng số lao động của NSDLĐ.

Danh sách thành viên đại diện tham gia đối thoại của hai bên được thực hiện định kỳ ít nhất 02 năm một lần và công bố công khai tại nơi làm việc. Trong khoảng thời gian giữa 02 kỳ, xác định thành viên tham gia đối thoại, nếu có thành viên đại diện không thể tiếp tục tham gia thì hai bên xem xét, quyết định bổ sung thành viên thay thế của tổ chức, nhóm mình và công bố công khai tại nơi làm việc.

Khi tiến hành đối thoại ngoài các thành viên tham gia đối thoại như trên, hai bên thống nhất mời tất cả NLĐ hoặc một số NLĐ liên quan cùng tham gia đối thoại, bảo đảm có sự tham gia của đại diện lao động nữ khi đối thoại về các nội dung liên quan đến quyền, lợi ích của lao động nữ.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 02 năm 2021.

 

Quy định về thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động (HĐLĐ) đối với Người quản lý doanh nghiệp
Trả lời

Ngày 14/12/2020, Chính phủ ban Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động. Theo đó, Nghị định này quy định về thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với Người quản lý doanh nghiệp.

Theo quy định tại Nghị định này thì Người quản lý doanh nghiệp (được quy định tại Luật doanh nghiệp) là một ngành, nghề đặc thù. Khi người lao động làm ngành, nghề, công việc đặc thù đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với những người lao động này thì thời hạn báo trước như sau:

  • Ít nhất 120 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 tháng trở lên;
  • Ít nhất bằng một phần tư thời hạn của hợp đồng lao động đối với hợp đồng lao động có thời hạn dưới 12 tháng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 02 năm 2021.