Ngày 08/10/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 126/NQ-CP năm 2021 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 68/NQ-CP về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19. Theo đó, Nghị quyết đã sửa đổi, bổ sung quy định về các trường hợp được nhận hỗ trợ do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19, cụ thể như sau:
(1) Mở rộng đối tượng được nhận hỗ trợ khi chấm dứt hợp đồng lao động:
Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, phải chấm dứt hợp đồng lao động trong thời gian từ ngày 01 tháng 5 năm 2021 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2021 nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp và thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Phải cách ly y tế, trong các khu vực bị phong tỏa hoặc không thể đến địa điểm làm việc do yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19;
+ Do người sử dụng lao động bị tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19 hoặc có trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo nguyên tắc của Chỉ thị số 16/CT-TTg hoặc bố trí lại sản xuất, lao động để phòng, chống dịch COVID-19.
(2) Mở rộng đối tượng được nhận hỗ trợ do tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương:
Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tính đến thời điểm ngay trước khi tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương; có thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương trong thời hạn của hợp đồng lao động từ 15 ngày liên tục trở lên tính từ ngày 01 tháng 5 năm 2021 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2021 và thời điểm bắt đầu tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương tính từ ngày 01 tháng 5 năm 2021 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2021 và thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Phải điều trị COVID-19, cách ly y tế, trong các khu vực bị phong tỏa, không thể đến địa điểm làm việc do yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19;
+ Do người sử dụng lao động bị tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19 hoặc có trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo nguyên tắc của Chỉ thị số 16/CT-TTg hoặc bố trí lại sản xuất, lao động để phòng, chống dịch COVID-19.
(3) Mở rộng đối tượng được nhận hỗ trợ do ngừng việc:
Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động bị ngừng việc vì lý do theo quy định khoản 3 Điều 99 Bộ luật Lao động; đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tính đến thời điểm ngay trước khi ngừng việc và thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Phải điều trị COVID-19, cách ly y tế, trong các khu vực bị phong tỏa hoặc không thể đến địa điểm làm việc do yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo nguyên tắc của Chỉ thị số 16/CT-TTg từ 14 ngày liên tục trở lên trong thời gian từ ngày 01 tháng 5 năm 2021 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2021;
+ Do người sử dụng lao động phải tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc có trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo nguyên tắc của Chỉ thị số 16/CT-TTg hoặc bố trí lại sản xuất, lao động để phòng, chống dịch COVID-19 từ 14 ngày liên tục trở lên trong thời gian từ ngày 01 tháng 5 năm 2021 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2021.
Mức hỗ trợ đối với các đối tượng nêu trên được áp dụng như quy định tại Nghị quyết 68/NQ-CP.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/10/2021.
Ngày 26/8/2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (“Nghị định 80”). Nghị định 80 thay thế Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ.
Sau đây, bài viết sẽ điểm qua các chính sách hỗ trợ “dành riêng” cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị tại Nghị định số 80, cụ thể như sau:

Chi tiết: Tham khảo thêm các quy định tại Điều 25 Nghị định 80.
Nghị định 80 có hiệu lực từ ngày 15/10/2021.
Hy vọng thông tin trên hữu ích với Quý bạn đọc.
Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!
Ngày 26/8/2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (“Nghị định 80”). Nghị định 80 thay thế Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ.
Sau đây, bài viết sẽ điểm qua các chính sách hỗ trợ “dành riêng” cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo tại Nghị định số 80, cụ thể như sau:

Chi tiết: Tham khảo thêm các quy định tại Điều 22 Nghị định 80.
Nghị định 80 có hiệu lực từ ngày 15/10/2021.
Hy vọng thông tin trên hữu ích với Quý bạn đọc.
Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!
Năm 2021, dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp. Trước tình hình đó, một số Cục Hải quan, cộng đồng doanh nghiệp đã kiến nghị việc xem xét không XPVPHC đối với một số trường hợp vi phạm xảy ra trong lĩnh vực hải quan do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 và việc áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội, chống dịch của Chính phủ, bao gồm các trường hợp như sau:
1. Hàng hóa thuộc danh mục phải kiểm tra nhà nước về chất lượng nhưng chuyên gia nước ngoài chưa thể sang Việt Nam để lắp ráp phụ kiện phục vụ cho việc kiểm tra chất lượng hàng hóa theo quy định.
2. Hàng hóa (hóa chất) nhập về không có bồn chứa, không tiêu thụ được nên phải để hàng lưu tại cảng, không thể khai hải quan đúng thời hạn quy định.
3. Doanh nghiệp không nộp báo cáo quyết toán, nộp chậm báo cáo tình hình sử dụng hàng hóa miễn thuế do giãn cách xã hội, không có nhân viên làm việc.
4. Doanh nghiệp không thể thu xếp nguồn tài chính để nộp tiền thuế cho tất cả các lô hàng đã về Việt Nam trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hàng đến cửa khẩu.
5. Doanh nghiệp không thể đăng ký tờ khai, lấy hàng trong thời gian 30 ngày kể từ ngày hàng về đến cửa khẩu do hoạt động trong khu vực bị phong tỏa.
6. Doanh nghiệp không thể thực hiện tái xuất hàng hóa theo quyết định XPVPHC do giãn cách xã hội và ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19.
7. Doanh nghiệp không thể tái xuất, tái nhập hàng hóa đúng thời hạn quy định hoặc đúng thời hạn đăng ký với cơ quan hải quan do giãn cách xã hội và ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19.
8. Một số đơn vị hải quan có ca F0 và thực hiện giãn cách xã hội nên không thể lập biên bản vi phạm hành chính, tiếp nhận hồ sơ, tang vật vi phạm để xác minh làm rõ vi phạm để xử lý đúng thời hạn theo quy định.
Do đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, ngày 15/9/2021 Tổng cục Hải quan ban hành Công văn 4428/TCHQ-PC năm 2021 yêu cầu cơ quan hải quan khi xem xét không XPVPHC với lý do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 và việc áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội, chống dịch của Chính phủ phải căn cứ quy định tại Điều 2, Điều 11 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Điều 6 Nghị định 128/2020/NĐ-CP và hồ sơ vụ việc cụ thể để áp dụng quy định liên quan đến“sự kiện bất khả kháng” đối với từng vụ việc cụ thể.
Như vây, để xem xét không XPVPHC với lý do do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 và áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội, chống dịch của Chính phủ thì cần áp dụng quy định liên quan đến“sự kiện bất khả kháng” và cá nhân, tổ chức phải chứng minh đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết, khả năng cho phép nhưng không ngăn được hành vi vi phạm xảy ra.
Công văn này có hiệu lực kể từ ngày 15/9/2021.
Ngày 16/9/2021, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư số 13/2021/TT-BYT quy định cấp số lưu hành, nhập khẩu trang thiết bị y tế phục vụ phòng, chống dịch COVID-19 trong trường hợp cấp bách.
Theo đó, trang thiết bị y tế được áp dụng hình thức cấp nhanh số lưu hành nếu đáp ứng đồng thời các điều kiện sau đây:
Là trang thiết bị y tế phục vụ phòng, chống dịch covid-19 cấp nhanh số lưu hành thuộc danh mục quy định, bao gồm: Máy tách chiết; Máy PCR, Hóa chất (sinh phẩm) chạy máy PCR xét nghiệm SARS-CoV-2; Test kít xét nghiệm nhanh kháng nguyên/ kháng thể kháng SARS-CoV-2; Máy thở chức năng cao, máy thở xâm nhập và không xâm nhập, máy thở không xâm nhập, máy oxy dòng cao, máy thở xách tay; Máy lọc máu liên tục; Máy X-Quang di động; Máy siêu âm Doppler màu ≥ 3 đầu dò; Máy đo khí máu (đo được điện giải, lactat, hematocrite); Máy theo dõi bệnh nhân ≥ 5 thông số; Bơm tiêm điện; Máy truyền dịch; Máy phá rung tim có tạo nhịp; Máy điện tim ≥ 6 kênh; Máy siêu âm xách tay; Máy đo thời gian đông máu; Máy đo huyết động.
Thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Đã được một trong các tổ chức sau cho phép lưu hành hoặc sử dụng khẩn cấp: Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) – Mỹ; Cục Quản lý hàng hóa trị liệu (TGA) – Úc; Cơ quan quản lý y tế Canada (Health Canada); Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản (MHLW) hoặc Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị y tế (PMDA) – Nhật Bản;
2. Đã được cơ quan có thẩm quyền của các nước thuộc khu vực Châu u quy định tại Phụ lục 2 kèm theo Thông tư này cho phép lưu hành, sử dụng khẩn cấp;
3. Thuộc danh mục sản phẩm xét nghiệm SARS-CoV-2 được sử dụng khẩn cấp do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố trên trang web tại địa chỉ https://extranet.who.int (Coronavirus disease (COVID-19) Pandemic – Emergency Use Listing Procedure (EUL) open for IVDs | WHO – Prequalification of Medical Products (IVDs, Medicines, Vaccines and Imm unization Devices, Vector Control);
4. Thuộc danh mục các sản phẩm phổ biến để xét nghiệm SARS-CoV-2 do Ủy ban an ninh y tế của Châu u ban hành (Health Security Committee – EUHSC) công bố trên trang web tại địa chỉ https://ec.europa.eu (Technical working group on COVID-19 diagnostic tests | Public Health (europa.eu);
5. Đã được cấp giấy phép nhập khẩu theo hình thức thương mại tại Việt Nam trước ngày Thông tư này có hiệu lực (ngày 16/9/2021);
6. Được sản xuất trong nước theo hình thức chuyển giao công nghệ đối với trang thiết bị y tế thuộc một trong các trường hợp (1), (2), (3), (4), (5) nêu trên;
7. Được sản xuất trong nước theo hình thức gia công đối với trang thiết bị y tế thuộc một trong các trường hợp (1), (2), (3), (4), (5) nêu trên.
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 16/9/2021.
Ngày 25/8/2021, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 10/2021/TT-BXD hướng dẫn Nghị định 06/2021/NĐ-CP về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và Nghị định 44/2016/NĐ-CP về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động.
Theo đó, Thông tư này quy định chi tiết một số nội dung về quản lý an toàn lao động, chất lượng thi công xây dựng công trình và bảo trì công trình xây dựng; áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến quản lý an toàn lao động, chất lượng thi công xây dựng công trình và bảo trì công trình xây dựng. Trong đó, Thông tư đã hướng dẫn chi tiết các chi phí đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động trong thi công xây dựng công trình, bao gồm:
– Chi phí lập và thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn;
– Chi phí huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động; chi phí thực hiện kiểm định kỹ thuật an toàn lao động đối với máy, thiết bị; chi phí thông tin, tuyên truyền về an toàn, vệ sinh lao động;
– Chi phí trang cấp dụng cụ, phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động;
– Chi phí cho công tác phòng, chống cháy, nổ;
– Chi phí phòng, chống yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại và cải thiện điều kiện lao động; chi phí tổ chức đánh giá nguy cơ rủi ro về an toàn lao động.
Đây là một trong những nội dung của chi phí gián tiếp trong chi phí xây dựng của dự toán xây dựng công trình.
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15/10/2021.
Ngày 30/7/2021, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Thông tư số 11/2021/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Văn bản này có hiệu lực từ ngày 1/10/2021.
Theo đó, về nguyên tắc, thông tư quy định toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một Tổ chức tín dụng (TCTD), Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài phải được phân loại vào cùng một nhóm nợ. TCTD phân loại nợ theo 5 nhóm: (i) Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn; (ii) Nhóm 2: Nợ cần chú ý; (iii) Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn; (iv) Nhóm 4: Nợ nghi ngờ; (v) Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn. Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với từng nhóm nợ như sau: (i) Nhóm 1: 0%; (ii) Nhóm 2: 5%; (iii) Nhóm 3: 20%; (iv) Nhóm 4: 50%; (v) Nhóm 5: 100%.
Mức trích lập dự phòng chung phải trích được xác định bằng 0,75% tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4. Bên cạnh đó, TCTD sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong trường hợp sau: Khách hàng là tổ chức bị giải thể, phá sản cá nhân bị chết, mất tích; các khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có khả năng mất vốn.
Sau thời gian tối thiểu 5 năm kể từ ngày sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro và sau khi đã thực hiện tất cả các biện pháp để thu hồi nhưng không thu hồi được TCTD được quyết định xuất toán nợ đã xử lý rủi ro khỏi ngoại bang.
So với Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013, Thông tư 09/2014/TT-NHNN ngày 18/3/2014 thì Thông tư số 11/2021/TT-NHNN đã đưa ra khung pháp lý chặt chẽ hơn để phân loại nợ và trích lập dự phòng phù hợp với bối cảnh dịch bệnh bùng phát khiến nợ xấu tiềm ẩn của các Ngân hàng có khả năng tăng mạnh trong vài năm tiếp theo.
Ngày 26/8/2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (“Nghị định 80”). Nghị định 80 thay thế Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ.
Sau đây, bài viết sẽ điểm qua các chính sách hỗ trợ “dành riêng” cho doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh tại Nghị định số 80, cụ thể như sau:

Chi tiết: Tham khảo thêm các quy định từ Điều 15 đến Điều 19 Nghị định 80.
Nghị định 80 có hiệu lực từ ngày 15/10/2021.
Hy vọng thông tin trên hữu ích với Quý bạn đọc.
Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!
Ngày 24/9/2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 116/NQ-CP về chính sách hỗ trợ NLĐ và NSDLĐ bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid – 19 từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp.
Theo đó, Nghị quyết này đã đưa ra các chính sách hỗ trợ cho NLĐ và NSDLĐ, cụ thể như sau:
Đối với NLĐ
– Đối tượng áp dụng là NLĐ đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm ngày 30/9/2021 (không áp dụng đối với NLĐ đang làm việc tại CQNN, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước đảm bảo chi thường xuyên) và NLĐ đã tạm dừng tham gia bảo hiểm thất nghiệp do chấm dứ HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc trong khoản thời gian từ ngày 1/1/2020 đếm ngày 30/9/2021 có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được lưu theo quy định của Pháp luật về việc làm, không bao gồm người hưởng lương hưu hàng hàng.
– Mức hỗ trợ sẽ từ 1.800.000 đồng/người đến 3.300.000 đồng/người tuỳ theo thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp, cụ thể: (i) đóng BHTN dưới 12 tháng hỗ trợ 1.800.000 đồng/người; (ii) đóng BHTN từ đủ 12 tháng đến dưới 60 tháng hỗ trợ 2.100.000 đồng/người; (iii) đóng BHTN từ đủ 60 tháng đến dưới 84 tháng hỗ trợ 2.400.000 đồng/người; (iv) đóng BHTN từ đủ 84 tháng đến dưới 108 tháng hỗ trợ 2.650.000 đồng/người; (v) đóng BHTN từ đủ 108 tháng đến dưới 132 tháng hỗ trợ 2.900.000 đồng/người; (vi) đóng BHTN từ đủ 132 tháng trở lên hỗ trợ 3.300.000 đồng/người.
– Thời gian thực hiện việc hỗ trợ NLĐ là từ ngày 1/10/2021 và hoàn thành chậm nhất vào ngày 31/12/2021.
Đối với NSDLĐ
– Đối tượng áp dụng là NSDLĐ tham gia bảo hiểm thất nghiệp như doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động.
– Chính sách hỗ trợ là giảm mức đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp cho NSDLĐ bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid, cụ thể: NSDLĐ được giảm mức đóng từ 1% xuống bằng 0% quỹ tiền lương tháng của NLĐ thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp (được quy định tại Điều 43 Luật Việc Làm)
– Thời gian thực hiện giảm mức đóng là 12 tháng từ ngày 1/10/2021 đến hết ngày 30/9/2022.
Có thể thấy, mục đích của việc ban hành Nghị Quyết này là thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với NLĐ, NSDLĐ bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid, đồng thời góp phần hỗ trợ NLĐ vượt qua khó khăn trong cuộc sống, giúp NSDLĐ giảm chi phí, duy trì sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho NLĐ, mặc khác cũng phát huy vai trò của chính sách bảo bảo hiểm thất nghiệp là chỗ dựa cho NLĐ và NSDLĐ.
Nghị quyết số 116/NQ-CP có hiệu lực từ ngày 24/9/2021.
Hy vọng thông tin trên hữu ích với Quý bạn đọc.
Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!