Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Bản tin pháp luật Số 3/2024
Trả lời

TRIỂN KHAI THANH TOÁN TRỰC TUYẾN NGHĨA VỤ TÀI CHÍNH ĐẨT ĐAI CHO DOANH NGHIỆP
Trả lời

Nhằm thúc đẩy dịch vụ công trực tuyến và cung cấp dịch vụ thanh toán nghĩa vụ tài chính về đất đai thuận tiện cho doanh nghiệp, Tổng cục Thuế phối hợp các đơn vị lên quan đã ban hành Công văn số 1288/TCT-DNNCN về triển khai nộp nghĩa vụ tài chính về đất đai cho doanh nghiệp qua Cổng Dịch vụ Công quốc gia. 

Theo Công văn số 128/TCT-DNNCN, phạm vi triển khai dịch vụ thanh toán nghĩa vụ tài chính áp dụng đối với doanh nghiệp Nhà nước (NNT) nộp các nghĩa vụ tài chính về đất đai qua Cổng Dịch vụ Công quốc gia và trao đổi dữ liệu từ Tổng cục Thuế tới Cổng Dịch vụ Công quốc gia để xử lý thủ tục hành chính cho NNT.

Hướng dẫn này áp dụng cho doanh nghiệp Nhà nước (NNT) có tài khoản trên Cổng DVCQG để nộp nghĩa vụ tài chính (NVTC) về đất đai qua cơ chế một cửa liên thông. Chỉ áp dụng thanh toán trực tuyến cho NVTC về đất đai chưa hết hạn. Quy trình xử lý hồ sơ NVTC đảm bảo thanh toán trực tuyến trên Cổng DVCQG và cập nhật thông tin chính xác.

Trong Công văn hướng dẫn chi tiết và các bước thanh toán:

Bước 1: Truy cập Cổng DVCQG, đăng nhập tài khoản doanh nghiệp, chọn Thanh toán trực tuyến và chọn Nộp thuế, lệ phí trước bạ về đất đai, tài sản.

Bước 2: Nhập thông tin tra cứu nghĩa vụ tài chính về đất đai bằng mã hồ sơ được cung cấp.

Bước 3: Cổng DVCQG kết nối tới hệ thống Thuế điện tử (eTax).

Bước 4: Hiển thị thông tin khoản nộp trên giấy nộp tiền vào Ngân sách nhà nước Mẫu số C1-02/NS.

Bước 5: Kiểm tra thông tin trên giấy nộp tiền và hoàn thành quy trình nộp.

Bước 6: Xác nhận nộp thành công và nhận thông báo về việc hoàn thành nộp tiền vào ngân sách nhà nước.

Các bước tra cứu giao dịch:

Bước 1: Click ‘Thông tin doanh nghiệp’ trên Cổng DVCQG.

Bước 2: Chọn ‘Lịch sử thanh toán’ để tiếp tục.

Bước 3: Nhập tham số tra cứu và nhấn biểu tượng tìm kiếm.

Bước 4: Chọn ‘Biên lai’ để xem chi tiết các chứng từ và tải về dưới định dạng XML hoặc PDF.

Bắt đầu triển khai đợt 1 vào tháng 3/2024 và tiếp tục được rộng rãi triển khai lần 2 trong tháng 4 và tháng 5/2024.

Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.

Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!

DOANH NGHIỆP ĐĂNG KÝ CHỞ KHÁCH BẰNG ĐƯỜNG THỦY TỪ ĐẤT LIỀN RA ĐẢO CẦN THỰC HIỆN NHỮNG THỦ TỤC NÀO?
Trả lời

Ngày 10/4/2024, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành Thông tư số 10/2024/TT-BGTVT sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư quy định về quản lý tuyến vận tải thủy từ bờ ra đảo trong vùng biển Việt Nam. 

Theo quy định tại Điều 1 Thông tư số 10/2024/TT-BGTVT, thủ tục đăng ký vận tải hành khách cố định trên tuyến vận tải thủy từ bờ ra đảo, quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo thông tư này, được thay đổi như sau: 

Về phương thức, tổ chức, cá nhân có thể gửi hồ sơ đăng ký trực tiếp, qua hệ thống bưu chính, dịch vụ công trực tuyến hoặc hình thức phù hợp khác đến Sở Giao thông vận tải nơi quản lý tuyến đường thủy. So với quy định cũ, Thông tư này đã bổ sung hình thức nộp hồ sơ qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến hoặc hình thức phù hợp khác. Đồng thời, thay đổi nơi nhận hồ sơ là Sở Giao thông vận tải thay vì là Cảng vụ hàng hải khu vực, cơ quan, đơn vị chức năng được UBND cấp tỉnh giao nhiệm vụ trong trường hợp được phân cấp. 

Về tài liệu, tổ chức, cá nhân đăng ký cần cung cấp những tài liệu sau: 

Bản đăng ký hoạt động vận tải hành khách theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này;

Bản chính hoặc bản điện tử hoặc bản sao điện tử hoặc bản sao điện tử có chứng thực ý kiến thống nhất bằng văn bản hoặc hợp đồng với tổ chức quản lý cảng, bến cho phương tiện vào đón, trả hành khách;

Xuất trình bản chính để kiểm tra (trong trường hợp gửi trực tiếp) hoặc bản điện tử hoặc bản sao điện tử hoặc bản sao điện tử có chứng thực (trong trường hợp gửi qua đường bưu chính, qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến hoặc theo hình thức phù hợp khác), bao gồm: Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện; Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện còn hiệu lực và phù hợp với tuyến hoạt động.

Về trình tự thực hiện, sau khi tiếp nhận hồ sơ, Sở Giao thông vận tải sẽ kiểm tra và xử lý hồ sơ như sau: 

Trường hợp hồ sơ nộp trực tiếp: Nếu hồ sơ không hợp lệ theo quy định thì trả lại ngay và hướng dẫn tổ chức, cá nhân hoàn thiện hồ sơ. Nếu hồ sơ hợp lệ theo quy định, chậm nhất không quá 03 ngày làm việc, kể từ khi nhận đủ hồ sơ, Sở Giao thông vận tải gửi xin ý kiến bằng văn bản của Cảng vụ hàng hải khu vực, Cảng vụ đường thủy nội địa trực thuộc Cục Đường thủy nội địa Việt Nam (sau đây gọi là Cảng vụ) nơi có tuyến vận tải thủy từ bờ ra đảo đi qua. Cảng vụ có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản;

Trường hợp hồ sơ nhận qua hệ thống bưu chính, qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến hoặc hình thức phù hợp khác: Nếu hồ sơ không hợp lệ theo quy định, trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Sở Giao thông vận tải phải có văn bản gửi tổ chức, cá nhân yêu cầu bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra văn bản thông báo, nếu tổ chức, cá nhân không hoàn thiện, bổ sung hồ sơ thì Sở Giao thông vận tải kết thúc việc giải quyết hồ sơ. Tổ chức, cá nhân muốn tiếp tục làm thủ tục đăng ký vận tải hành khách cố định phải thực hiện lại từ đầu theo quy định.

Nếu hồ sơ hợp lệ theo quy định, chậm nhất không quá 03 ngày làm việc, kể từ khi nhận đủ hồ sơ, Sở Giao thông vận tải gửi xin ý kiến bằng văn bản của Cảng vụ nơi có tuyến vận tải thủy từ bờ ra đảo đi qua. Cảng vụ có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản;

Chậm nhất không quá 03 ngày làm việc, kể từ khi nhận được văn bản trả lời của cơ quan, đơn vị quy định tại khoản 2 Điều này, Sở Giao thông vận tải xem xét, có văn bản chấp thuận theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này gửi trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính hoặc gửi trực tuyến qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến cho tổ chức, cá nhân vận tải khách cố định trên tuyến. Trường hợp không chấp thuận, có văn bản trả lời nêu rõ lý do.

Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.

Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!

BỔ SUNG CHẾ TÀI XỬ PHẠT HÀNH VI SỬ DỤNG KÍCH ĐIỆN, HÓA CHẤT CẤM ĐỂ ĐÁNH BẮT THỦY HẢI SẢN
Trả lời

So với quy định cũ, Nghị định số 38/2024/NĐ-CP bổ sung thêm chế tài và quy định cụ thể hơn về mức xử phạt đối với các vi phạm hành chính trong lĩnh vực đánh bắt, khai thác thủy hải sản. 

Ngày 05/4/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2024/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản, thay thế Nghị định số 42/2019/NĐ-CP ngày 16/5/2019 của Chính phủ. So với văn bản cũ, Nghị định 38 đã bổ sung, đồng thời quy định cụ thể, chi tiết hơn về các chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khai thác thủy hải sản, đặc biệt đối với hành vi sử dụng điện hoặc hóa chất, chất cấm trong việc đánh bắt. 

Cụ thể, khoản 2, Điều 28 Nghị định 38 quy định đối với hành vi sử dụng công cụ kích điện hoặc sử dụng trực tiếp dòng điện từ máy phát điện trên tàu cá để khai thác thủy sản, người vi phạm sẽ bị xử phạt như sau: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với trường hợp tàu cá có chiều dài lớn nhất dưới 06 mét; Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với trường hợp tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 06 mét đến dưới 12 mét; Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với trường hợp tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 12 mét đến dưới 15 mét; Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với trường hợp tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15 mét trở lên.

Ngoài ra, đối với hành vi sử dụng dòng điện trực tiếp từ điện lưới để khai thác thủy sản mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, mức xử phạt áp dụng là phạt tiền 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. 

So với quy định cũ, Nghị định 38 đã bổ sung mức xử phạt đối với trường hợp tàu cá có chiều dài dưới 06 mét sử dụng dòng điện từ máy phát điện để khai thác thủy sản. Quy định mới này giúp hoàn thiện khung chế tài, tạo điều kiện cho cơ quan chức năng có thể quản lý, xử lý nghiêm đối với những hành vi vi phạm. 

Tương tự, Điều 29 Nghị định này cũng bóc tách, quy định chi tiết hơn về chế tài đối với hành vi tàng trữ, sử dụng chất cấm, hóa chất cấm, chất độc, chất nổ, thực vật có độc tố để khai thác thủy sản. Theo đó, Đối với hành vi tàng trữ chất cấm, hóa chất cấm, chất độc, thực vật có độc tố trên tàu cá, tùy thuộc kích thước tàu cá, mức phạt tiền có thể áp dụng sẽ dao động ở mức thấp nhất từ 3.000.000-5.000.000 đồng (Chiều dài tàu dưới 06 mét) tới mức cao nhất là 15.000.000-20.000.000 đồng (Chiều dài tàu từ 24 mét trở lên). 

Đối với trường hợp tái phạm hoặc vi phạm hành chính nhiều lần, mức phạt tiền cũng sẽ dao động ở mức thấp nhất từ 5.000.000-10.000.000 đồng (Chiều dài tàu dưới 06 mét) tới mức cao nhất là 20.000.000-25.000.000 đồng (Chiều dài tàu từ 24 mét trở lên). 

So với Nghị định 42/2019/NĐ-CP, Nghị định 38 vừa quy định cụ thể, chi tiết các mức xử phạt đối với từng loại tàu cá vi phạm, vừa nâng mức xử phạt đối với hành vi tàng trữ chất cấm, hóa chất cấm, chất độc, thực vật có độc tố trên tàu cá. Quy định này được kỳ vọng sẽ tăng tính răn đe, giảm thiểu vi phạm hành chính trong lĩnh vực khai thác thủy hải sản. 

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20/5/2024.

Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.

Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!

ĐIỀU KIỆN ĐỂ TÀU CÁ ĐƯỢC KHAI THÁC NGOÀI VÙNG BIỂN VIỆT NAM
Trả lời

So với quy định cũ, Nghị định 37/2024/NĐ-CP quy định chi tiết, chặt chẽ hơn về các điều kiện, tiêu chuẩn để có thể cấp phép cho tàu cá được khai thác ngoài vùng biển Việt Nam. 

Với lợi thế đường biển dài cùng nguồn thủy hải sản phong phú, đánh bắt và khai thác thủy sản là một trong những ngành nghề đem lại nguồn thu nhập ổn định tại Việt Nam. Không dừng lại ở lãnh hải trong nước, ngư dân đang hướng tới việc khai thác, đánh bắt ở ngoài vùng biển Việt Nam. Bởi vậy, việc đưa ra các điều kiện chặt chẽ để tàu cá khai thác ngoài vùng biển Việt Nam là rất cần thiết. 

Ngày 04/4/2024, Nghị định số 37/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản được ban hành, trong đó nội dung về việc điều chỉnh, bổ sung điều kiện tàu cá được hoạt động, khai thác ngoài vùng biển Việt Nam là vấn đề được nhiều người quan tâm. 

Cụ thể, khoản 23, Điều 1 Nghị định số 37/2024/NĐ-CP quy định về các điều kiện tàu cá cần đáp ứng như sau: 

Thứ nhất, Tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15 mét trở lên phải lắp đặt thiết bị giám sát hành trình tự động truyền thông tin, dữ liệu qua hệ thống thông tin vệ tinh, không thuộc danh sách tàu cá vi phạm quy định khai thác bất hợp pháp;

Thứ hai, Tàu cá phải trang bị, lắp đặt thiết bị thông tin liên lạc, hàng hải trên tàu bao gồm: Máy thu phát vô tuyến điện thoại sóng cực ngắn (VHF) có bộ phận gọi chọn số và thu trực canh (DSC) trên kênh 70 hoặc 16; máy thu phát vô tuyến điện (MF/HF); máy thu tự động thông báo hàng hải và thời tiết (NAVTEX), phao chỉ báo vị trí khẩn cấp (EPIRB);

Thứ ba, Tàu cá cần có mã số của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) theo quy định trong trường hợp tàu cá đi khai thác tại vùng biển thuộc quyền của quản lý của tổ chức nghề cá khu vực hoặc tại vùng biển của quốc gia, vùng lãnh thổ khác có yêu cầu;

Thứ tư, cần có giám sát viên theo quy định của Tổ chức quản lý nghề cá khu vực hoặc quốc gia ven biển;

Thứ năm, Thuyền viên và người làm việc trên tàu cá phải có Giấy chứng nhận hoàn thành lớp bồi dưỡng quản lý nghề cá tại vùng biển quốc tế do Cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp đối với trường hợp cấp giấy phép đi khai thác tại vùng biển do Tổ chức quản lý nghề cá khu vực quản lý

So với quy định tại Điều 46 Nghị định số 26/2019/NĐ-CP, Nghị định 37 đã có những quy định chặt chẽ, cụ thể hơn so với trước đây về điều kiện tàu cá được hoạt động, khai thác thủy sản ngoài vùng biển Việt Nam. Điều này đã tạo ra hành lang pháp lý vững chắc để kiểm soát các tàu cá hoạt động ngoài lãnh hải Việt Nam.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 19/5/2024.

Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.

Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!

NGƯỜI DÂN TẠI HÀ NỘI BỊ THU HỒI ĐẤT ĐƯỢC HỖ TRỢ BỒI THƯỜNG, TÁI ĐỊNH CƯ NHƯ THẾ NÀO?
Trả lời

Ngày 12/4/2024, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 27/2024/QĐ-UBND về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội, ban hành kèm theo Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội

Quyết định này sửa đổi và bổ sung một số điều của Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở tại thành phố Hà Nội. Cụ thể:

Thứ nhất, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam được bồi thường mà không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn thu hồi. Cụ thể, trong các trường hợp bị thu hồi toàn bộ đất ở hoặc đất ở còn lại không đủ điều kiện để ở, bồi thường được thực hiện bằng đất ở hoặc nhà ở.

Thứ hai, đối với các quận, bồi thường được thực hiện bằng căn hộ chung cư tái định cư, với diện tích phù hợp không cao hơn 02 lần diện tích đất ở bị thu hồi và không thấp hơn suất tái định cư tối thiểu quy định. Phần diện tích vượt quá giới hạn này hoặc lớn hơn 30m² phải mua theo giá bán nhà do cơ quan nhà nước quy định.

Thứ ba, trong các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, bồi thường bằng giao đất tái định cư, với điều kiện quỹ đất tái định cư đủ quy mô và diện tích. Trường hợp không đủ, Ủy ban nhân dân Thành phố sẽ xem xét từng dự án, từng trường hợp cụ thể, và bồi thường bằng đất theo quy định.

Thứ tư, đối với các huyện, thị xã, bồi thường được thực hiện bằng đất ở, với điều kiện không vượt quá suất tái định cư tối thiểu và không vượt quá hạn mức giao đất ở tối đa tại địa phương.

Thứ năm, khi một thửa đất ở bị thu hồi và có nhiều hộ gia đình sử dụng chung, mỗi hộ sẽ được giao một suất tái định cư. Diện tích đất được cung cấp không vượt quá diện tích đất ở bị thu hồi. Trong trường hợp diện tích đất cung cấp vượt quá, hộ cần trả tiền sử dụng đất, tính theo giá đất hiện hành và hệ số điều chỉnh.

Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.

Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!

HẠN CHẾ VIỆC THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP LIÊN QUAN NGÀNH NGHỀ TỪNG QUẢN LÝ ĐỐI VỚI CỰU CÁN BỘ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Trả lời

Thông tư số 02/2024/TT-BNNPTNT hạn chế quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp của cựu cán bộ ngành nông nghiệp đối với một số ngành nghề đặc thù họ từng quản lý. 

Ngày 27/3/2024, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành Thông tư số 02/2024/TT-BNNPTNT quy định danh mục các lĩnh vực và thời hạn người có chức vụ, quyền hạn không được thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã sau khi thôi giữ chức vụ trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. 

Cụ thể, theo Điều 3 Thông tư 02/2024/TT-BNNPTNT, người có chức vụ, quyền hạn được quy định là người do bổ nhiệm, bầu cử, tuyển dụng, do hợp đồng hoặc một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. Những người này bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức; Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.

Các lĩnh vực mà những người này không được thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã bao gồm: Trồng trọt, Bảo vệ thực vật, Chăn nuôi, Thú ý, Thủy lợi, Đê điều và phòng, chống thiên tai, Lâm nghiệp, Kiểm lâm, Thủy sản, Kiểm ngư, Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn, Chất lượng, chế biển, phát triển thị trường và Chương trình, dự án, đề án thuộc các lĩnh vực nêu trên. Thời gian hạn chế là 12 tháng, kể từ ngày thôi giữ chức vụ theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

Thông tư này có hiệu lực vào ngày 20/5/2024. 

Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.

Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!

NGÀNH Y TẾ ĐẶT MỤC TIÊU 35 BÁC SĨ TRÊN 10.000 DÂN TRONG TƯƠNG LAI
Trả lời

Theo Quyết định số 869/QĐ-BYT, chỉ tiêu nhân lực ngành Y tế trong giai đoạn 2023-2050 sẽ duy trì và gia tăng ổn định. Tầm nhìn đến 2050, chỉ tiêu nhân lực ngành Y tế sẽ đạt mức 35 bác sĩ, 4,5 dược sĩ đại học và 90 điều dưỡng trên 10.000 người dân.  

Cụ thể hoá Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 25/10/2022 của Chính phủ về Quy hoạch tổng thể Quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, ngày 08/4/2024, Bộ trưởng Bộ Y Tế đã ban hành Quyết định số 869/QĐ-BYT phê duyệt Đề án phát triển nguồn nhân lực y tế giai đoạn 2023-2030, định hướng 2050. 

Quyết định số 869/QĐ-BYT nhằm quán triệt và giao chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, ban ngành, tổ chức của ngành y tế thực hiện trong giai đoạn tới. Mục tiêu chung của Đề án phát triển nhân lực của Bộ Y Tế là nhằm phát triển nguồn nhân lực y tế đủ số lượng, đảm bảo chất lượng, năng lực chuyên môn và y đức với cơ cấu và phân bố hợp lý nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả, phát triển và hội nhập quốc tế. Quyết định 869/QĐ-BYT đã quy hoạch chỉ tiêu nhân lực ngành Y tế, cụ thể như sau:

Chỉ tiêu nhân lực y tế /10.000 dân

TT Nhân lực Năm 2023 Năm 2025 Năm 2030 Năm 2050
1 Bác sĩ 12 15 19 35
2 Dược sĩ đại học 3,06 3,4 4,0 4,5
3 Điều dưỡng 13 25 33 90

Với việc phê duyệt chỉ tiêu trên, ngành Y Tế Việt Nam đã xác định giai đoạn từ năm 2023 – 2030 ưu tiên việc duy trì và nâng cao chất lượng nhân lực ngành Y hơn là gia tăng về số lượng. Việc phê duyệt chỉ tiêu phát triển nhân lực ngành Y tế trên cũng thể hiện quan điểm phát triển nguồn nhân lực ổn định, hợp lý nhưng vẫn đảm bảo số lượng để đảm bảo điều kiện tiếp cận và chăm sóc sức khỏe cho mọi người dân, hướng tới việc hội nhập quốc tế. Dữ liệu cho thấy, chỉ tiêu nhân lực ngành Y tại các nước thuộc khối OECD hiện nay là 3,7/1000 dân. Như vậy, hướng tới năm 2050, Việt Nam xác định chỉ tiêu nhân lực Y tế sẽ tiệm cận các nước phát triển hiện nay.

Chỉ tiêu trên cũng phản ánh sự quan tâm của Nhà nước tới việc tuyển sinh, đào tạo nhân lực ngành Y trong giai đoạn trên. Bằng việc gia tăng chỉ tiêu hàng năm, công tác tuyển sinh, đào tạo cũng cần thiết được chú trọng đẩy mạnh. 

Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.

Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!

NGÂN HÀNG PHẢI CÔNG KHAI LÃI SUẤT CHO VAY TRƯỚC NGÀY 10/4/2024
Trả lời

Theo Công điện số 32/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các tổ chức tín dụng phải thực hiện công khai mặt bằng lãi suất cho vay, việc triển khai các gói tín dụng trước ngày 10/4/2024 theo đúng chỉ đạo của Thường trực Chính phủ tại thông báo số 134/TB-VPCP ngày 02/4/2024. 

Ngày 05/4/2024, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có Công điện số 32/CĐ-TTg về các giải pháp điều hành tăng trưởng tín dụng năm 2024, đặc biệt trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đến tháng 3 và Quý I năm 2024 mới đạt khoảng 0,9%. Trong đó, những chỉ đạo liên quan tới lãi suất cho vay tại các tổ chức tín dụng là nội dung được nhiều người quan tâm. 

Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo chủ trì, phối hợp giảm lãi suất cho vay

Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được chỉ đạo chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan giảm mặt bằng lãi suất cho vay theo Chỉ đạo tại Công điện số 18/CĐ-TTg ngày 05/3/2024 nhằm ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng. 

Bên cạnh đó, cần thực hiện có hiệu quả các giải pháp phù hợp để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, gắn với tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, đảm bảo cung cấp đủ vốn tín dụng, phục vụ, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng. 

Xử lý nghiêm ngân hàng không công khai lãi suất trước ngày 10/4/2024

Đối với các tổ chức tín dụng, Thủ tướng yêu cầu phải công khai mặt bằng lãi suất cho vay, việc triển khai các gói tín dụng trước ngày 10/4/2024 theo đúng chỉ đạo của Thường trực Chính phủ tại Thông báo số 134/TB-VPCP ngày 02/4/2024. Trường hợp không chấp hành, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần xử lý nghiêm theo thẩm quyền và công khai theo quy định của pháp luật. 

Đối với các ngân hàng thương mại Nhà nước, Thủ tướng chỉ đạo nghiên cứu ngay việc xây dựng và cung cấp gói tín dụng cho người mua nhà ở xã hội có thời hạn đến 15 năm; áp dụng mức lãi suất ưu đãi thấp hơn cho vay thương mại thông thường và cho các doanh nghiệp, chủ đầu tư xây nhà ở xã hội vay với lãi suất ưu đãi hơn để các đối tượng có thu nhập thấp được có cơ hội, động lực mua nhà hoặc thuận lợi trong việc thuê/thuê mua nhà. 

Đồng thời, nhóm ngân hàng này cần tiếp tục nghiên cứu, xem xét hạ mức lãi suất, đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi cho việc vay nguồn vốn hỗ trợ 120.000 tỷ đồng phù hợp tình hình thực tiễn theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 123/TB-VPCP ngày 27/3/2024. 

Ngoài ra, việc cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng cũng cần được đẩy mạnh, tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, giám sát chặt chẽ và có giải pháp hiệu quả, xử lý kịp thời nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng. 

Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.

Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!

Bản tin pháp luật Tháng 2/2024
Trả lời