Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
- 17 / 04 / 2026 -
Từ ngày 01/03/2026, nhà đầu tư nước ngoài không cần có dự án đầu tư trước khi thành lập doanh nghiệp

Trong những năm gần đây, Việt Nam liên tục cải thiện khung pháp lý nhằm tạo môi trường đầu tư cạnh tranh toàn cầu và thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất sẽ có hiệu lực từ ngày 01/03/2026 là việc cải cách thủ tục đầu tư dưới hình thức thành lập tổ chức kinh tế áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài mà theo đó pháp luật về quản lý đầu tư được điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn đối với quá trình gia nhập thị trường của nhà đầu tư nước ngoài, cụ thể như sau:

Nhà đầu tư không cần có dự án đầu tư trước khi thành lập doanh nghiệp

Nhà đầu tư không cần có dự án đầu tư trước khi thành lập doanh nghiệp

Căn cứ Khoản 1 Điều 22 Luật Đầu tư 2020 được bổ sung bởi Khoản 4 Điều 6 Luật sửa đổi Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hải quan; Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2025 có hiệu lực từ ngày 01/07/2025, trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trừ các trường hợp sau:

(1) Thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

(2) Thành lập mới trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển.

(3) Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng trung tâm dữ liệu lớn, hạ tầng điện toán đám mây, hạ tầng di động từ 5G trở lên và hạ tầng số khác trong lĩnh vực công nghệ chiến lược theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

(4) Dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghệ chiến lược, sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Như vậy, trước khi quy định mới có hiệu lực, trừ một số trường hợp đặc thù theo quyết định của Chính phủ, quá trình thành lập doanh nghiệp có vốn nước ngoài tại Việt Nam thường phải trải qua hai bước thủ tục pháp lý tách biệt nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau. Trước hết, nhà đầu tư phải đăng ký dự án đầu tư và thực hiện thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Chỉ sau khi có Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư mới được tiếp tục thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp và đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Cách tiếp cận này xuất phát từ mô hình quản lý truyền thống, trong đó cơ quan quản lý nhà nước cần xem xét và đánh giá nội dung của dự án đầu tư trước khi cho phép thành lập tổ chức kinh tế thực hiện dự án. Khi đó, thông qua quá trình thẩm định, cơ quan quản lý nhà nước có thể kiểm soát mục tiêu đầu tư, quy mô vốn, địa điểm thực hiện dự án và mức độ phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

Tuy nhiên, kể từ ngày 01/03/2026, thời điểm Luật Đầu tư 2025 chính thức có hiệu lực, quy định tại đã được tái cấu trúc căn bản. Cụ thể, tại Khoản 2 Điều 19 Luật Đầu tư 2025 đã tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài được thành lập tổ chức kinh tế thực hiện dự án đầu tư trước khi thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Cơ chế cho phép nhà đầu tư nước ngoài được quyền lựa chọn thời điểm thành lập doanh nghiệp trước hoặc sau khi dự án được chấp thuận. Bởi lẽ trường hợp nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn thành lập doanh nghiệp trước, nhà đầu tư nước ngoài có thể nhanh chóng thực hiện các giao dịch dân sự thiết yếu như thuê văn phòng, tuyển dụng nhân sự thông qua pháp nhân được thành lập trước khi chính thức triển khai dự án.

Điều này góp phần giúp nhà đầu tư nước ngoài rút ngắn thời gian gia nhập thị trường và kịp thời nắm bắt, tận dụng các cơ hội đầu tư kinh doanh. Đặc biệt đối với các dự án cần thẩm định khi mà thời gian xử lý thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể kéo dài nhiều tuần hoặc lâu hơn từ đó làm lỡ mất cơ hội đầu tư kinh doanh, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nhà đầu tư.

Việc cho phép nhà đầu tư nước ngoài được quyền lựa chọn thời điểm thành lập doanh nghiệp không chỉ giúp họ linh hoạt trong kế hoạch đầu tư kinh doanh mà còn thể hiện tư duy quản trị rủi ro hiện đại. Từ cơ chế quản lý dựa trên phê duyệt trước được chuyển sang mô hình tập trung vào giám sát hoạt động đầu tư trong quá trình vận hành và giúp hệ thống pháp luật đầu tư của Việt Nam tiệm cận hơn với thông lệ của nhiều quốc gia có môi trường đầu tư kinh doanh phát triển. Nhờ đó giúp rút ngắn khoảng cách về thủ tục hành chính giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, giảm bớt các rào cản pháp lý ban đầu.

Với sự mở rộng này, môi trường đầu tư của Việt Nam trở nên thông thoáng và hấp dẫn hơn, khuyến khích dòng vốn chất lượng cao và lâu dài đầu tư vào Việt Nam. Mặc dù theo quy định mới không còn bắt buộc nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án và thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ngay từ đầu. Nhưng điều này không có nghĩa là nhà đầu tư nước ngoài được miễn trừ các nghĩa vụ pháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư.

Theo đó, trước khi thực hiện thủ tục thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài vẫn cần chủ động đánh giá cẩn trọng, kỹ lưỡng, toàn diện về ngành nghề đầu tư kinh doanh dự kiến, điều kiện tiếp cận thị trường và các quy định pháp lý chuyên ngành. Trong đó, điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 Luật Đầu tư 2025 được xem như điều kiện tiên quyết. Nhóm điều kiện này bao gồm:

(i) Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế;

(ii) Hình thức đầu tư;

(iii) Phạm vi hoạt động đầu tư;

(iv) Năng lực của nhà đầu tư; đối tác tham gia thực hiện hoạt động đầu tư;

(v) Điều kiện khác theo quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Tóm lại việc Luật Đầu tư 2025 có phép Nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp trước khi thực hiện dự án thật sự là bước ngoặt về cải cách pháp lý. Tuy nhiên, sự linh hoạt này không đồng nghĩa với việc nới lỏng các nghĩa vụ pháp lý khác. Do đó, các nhà đầu tư cần thường xuyên cập nhật các quy định, hướng dẫn mới có liên quan để nắm bắt chi tiết nhằm xây dựng chiến lược đầu tư kinh doanh, chiến lược pháp lý rõ ràng và bảo đảm tuân thủ đầy đủ các yêu cầu pháp luật có liên quan.

Trong trường hợp cần hỗ trợ chuyên sâu, Quý khách hàng vui lòng liên hệ:

Trưởng Phòng Tư vấn Doanh nghiệp – Đầu tư: Phạm Thị Hương

• Email: huong.pham@bizlawyer.vn

• Điện thoại: 0969114589.

Trân trọng./.