Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
- 05 / 05 / 2026 -
Cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số trong quản trị doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2020

Trong công ty cổ phần, mỗi cổ đông có thể sở hữu một hoặc nhiều cổ phần tuỳ thuộc vào khả năng tài chính. Tỷ lệ nắm giữ cổ phần sẽ gắn liền với quyền, nghĩa vụ của cổ đông. Luật Doanh nghiệp 2020 không hạn chế số lượng cổ phần tối đa của cổ đông nhưng yêu cầu mỗi cổ đông là cá nhân, tổ chức phải sở hữu ít nhất một cổ phần.

Cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số

Cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số

Trên thực tế có cổ đông nắm giữ số lượng cổ phần rất lớn, có khả năng kiểm soát, chi phối toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp nhưng cũng có cổ đông sở hữu số lượng cổ phần rất nhỏ, thậm chí chỉ nắm giữ duy nhất một cổ phần. Từ sự phân hoá cơ cấu cổ phần, một số tên gọi được hình thành và sử dụng phổ biến trong công ty cổ phần như “cổ đông lớn”, “ cổ đông nắm quyền kiểm soát”, “cổ đông nhỏ” hay “cổ đông thiểu số”.

Hiện nay, Luật Doanh nghiệp 2020 không định nghĩa chính thức về cổ đông thiểu số nhưng dựa trên thực tiễn và đối chiếu các quy định pháp luật liên quan, cổ đông thiểu số có thể được hiểu là cổ đông nắm giữ số lượng cổ phần ở mức thấp, bị hạn chế về khả năng tham gia quản trị, điều hành, chi phối hoạt động trong công ty cổ phần. Sự chênh lệch về tỷ lệ sở hữu vốn đã dẫn đến sự bất bình đẳng, bất cân xứng quyền lực giữa các cổ đông lớn và cổ đông thiểu số, thậm chí tạo ra mâu thuẫn, xung đột về mặt lợi ích.

Các cổ đông thiểu số thường có vị thế thấp hơn, không có nhiều ảnh hưởng trong việc đưa ra ý kiến, quyết định đối với các vấn đề quản trị doanh nghiệp. Việc bảo vệ quyền, lợi ích của cổ đông thiểu số trở thành yêu cầu rất cần thiết và đang được pháp luật quan tâm nhằm đảm bảo tính công bằng, minh bạch trong hoạt động quản trị nội bộ, hạn chế tối đa tình trạng tư lợi diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp.

Mặc dù cổ đông thiểu số chỉ nắm giữ số lượng cổ phần nhỏ và không tác động nhiều đến việc quản trị công ty nhưng nếu các cổ đông thiểu số cùng liên kết với nhau có thể tạo ra nhóm cổ đông có tỷ lệ sở hữu vốn phù hợp để thực hiện các quyền quan trọng theo quy định Luật Doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp 2020 đã ghi nhận và thiết lập một số quyền cần thiết dành cho cổ đông thiểu số nhằm đảm bảo tính công bằng trong quản trị, điều phối hoạt động doanh nghiệp. Theo đó, nhóm cổ đông thiểu số khi đáp ứng điều kiện về tỷ lệ sở hữu có thể thực hiện nhiều quyền quan trọng ở khía cạnh quản trị, bao gồm:

Thứ nhất, quyền yêu cầu triệu tập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông. Theo quy định khoản 2 Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao; hoặc trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp hiện hành chưa quy định cụ thể thế nào là hành vi “vi phạm nghiêm trọng”.

Việc xác định hành vi này mang yếu tố định tính, phụ thuộc vào ý chí chủ quan của mỗi bên, khó áp dụng trên thực tế. Bên cạnh đó, liên quan đến việc tổ chức cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, Điều 142 Luật Doanh nghiệp 2020 cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông có tỷ lệ sở hữu cổ phần nêu trên được quyền kiến nghị các vấn đề đưa vào chương trình họp Đại hội đồng cổ đông.

Thứ hai, quyền đề cử, bầu cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát. Theo quy định khoản 5 Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát. Trong mô hình công ty cổ phần, Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty. Trong khi đó, Ban kiểm soát là cơ quan có chức năng thực hiện giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty.

Đây là hai cơ quan quản lý, giám sát quan trọng đóng vai trò điều phối, vận hành đảm bảo công ty hoạt động ổn định, đúng quy định pháp luật. Xuất phát từ vị trí của hai cơ quan này, Luật Doanh nghiệp hiện hành cho phép cổ đông hoặc nhóm vổ đông có tỷ lệ sở hữu như trên được quyền đề cử người vào thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Quy định này tạo điều kiện cho cổ đông thiểu số tham gia vào bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp, từ đó thực hiện việc giám sát hoạt động, thể hiện tiếng nói, quan điểm, tham gia đóng góp ý kiến và quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền, hạn chế sự chi phối tuyệt đối của cổ đông lớn.

Thứ ba, quyền tiếp cận thông tin của cổ đông thiểu số. Luật Doanh nghiệp 2020 trao cho cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty được mở rộng quyền tiếp cận thông tin.

Các chủ thể này được quyền xem xét, tra cứu, trích lục sổ biên bản và nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm, báo cáo của Ban kiểm soát, hợp đồng, giao dịch phải thông qua Hội đồng quản trị và tài liệu khác, trừ tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh của công ty. Quy định này đã góp phần giúp cổ đông thiểu số có cơ sở giám sát hoạt động quản lý của cấp lãnh đạo, hạn chế tình trạng che giấu, không minh bạch thông tin, tài liệu quan trọng hoặc thao túng nội bộ doanh nghiệp.

Thứ tư, quyền khởi kiện đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc. Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần phổ thông có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm liên đới đối với các thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc để yêu cầu hoàn trả lợi ích hoặc bồi thường thiệt hại cho công ty hoặc người khác trong các trường hợp:

(1) Người này vi phạm trách nhiệm của người quản lý công ty theo quy định tại Điều 165 Luật Doanh nghiệp;

(2) Không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, thực hiện không kịp thời hoặc thực hiện trái với quy định của pháp luật hoặc Điều lệ công ty, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị đối với quyền và nghĩa vụ được giao;

(3) Có hành vi lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác

Đây là cơ chế mang tính kiểm soát, răn đe đối với người quản lý doanh nghiệp, cũng đồng thời là công cụ hữu ích để cổ đông thiểu số được thực hiện các quyền tư pháp nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của họ.

Thứ năm, quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết Đại hội đồng cổ đông. Điều 151 Luật Doanh nghiệp 2020 trao cho cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ nghị quyết hoặc một phần nội dung nghị quyết Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp có dấu hiệu cho thấy trình tự, thủ tục triệu tập họp và ra quyết định của Đại hội đồng cổ đông vi phạm nghiêm trọng quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty; hoặc nội dung nghị quyết vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty.

Một lần nữa, thuật ngữ “vi phạm nghiêm trọng” được tiếp tục đề cập là căn cứ để yêu cầu huỷ bỏ nghị quyết Đại hội đồng cổ đông nhưng không được lý giải cụ thể, từ đó dẫn đến việc áp dụng trên thực tế phụ thuộc hoàn toàn vào yếu tố chủ quan của Toà án, Trọng tài, thiếu sự thống nhất trong quá trình xét xử. Mặc dù vậy, nếu quyền này được thực thi một cách hiệu quả cũng góp phần đảm cho cho việc ban hành các quyết định, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông tuân thủ đúng quy định pháp luật, tránh tình trạng cổ đông lớn áp đặt, chi phối việc ban hành quyết định, nghị quyết.

Quy định Luật Doanh nghiệp hiện hành có nhiều bước tiến nổi bật, mở rộng quyền của cổ đông thiểu số, tăng cường sự giám sát và thiết lấp cơ chế quản lý hiệu quả hơn trong doanh nghiệp. Ngày càng nhiều các cổ đông, nhà đầu tư hiểu hơn về cơ chế quản lý, quyền hạn của mình trong doanh nghiệp và thực tế giai đoạn gần đây Bizlawyer cũng đã tiếp nhận rất nhiều các đề nghị tư vấn liên quan đến giải quyết tranh chấp nội bộ doanh nghiệp, đặc biệt liên quan đến nhóm các cổ đông thiểu số hay còn xác định là nhóm cổ đông yếu thế trong doanh nghiệp.

Tuy vậy, thực trạng chung của việc áp dụng các quy định này còn nhiều hạn chế và chưa thật sự hiệu quả. Nguyên nhân của sự bất cập này xuất phát từ nhiều yếu tố như sự phối hợp và tuân thủ của người quản lý doanh nghiệp, tỷ lệ sở hữu cổ phần như hiện nay được đánh giá còn khá cao, Điều lệ doanh nghiệp quy định chưa thật sự rõ ràng và khả thi… Từ đó, để góp phần thực thi hiệu quả các quyền nêu trên đòi hỏi pháp luật cần tiếp tục hoàn thiện chặt chẽ hơn, phải có những quy định mang tính khả thi, áp dụng cao hơn nữa.

Đồng thời, hoạt động kiểm soát, vận hành nội bộ doanh nghiệp phải được tăng cường, minh bạch, tuân thủ đúng quy định pháp luật. Bên cạnh đó, các cổ đông thiểu số cần tự nâng cao ý thức và chủ động, liên kết, hành động quyết liệt hơn khi vận dụng các công cụ pháp lý theo quy định pháp luật để bảo vệ tốt hơn các quyền, lợi ích của mình trong quá trình tham gia quản trị công ty cổ phần.

Trong trường hợp cần hỗ trợ chuyên sâu, Quý khách hàng vui lòng liên hệ:
Luật sư tư vấn: Trần Thị Mỹ Duyên
Email: duyen.tran@bizlawyer.vn
Điện thoại: 038 7730896.
Trân trọng./.