
Tranh chấp hợp đồng mua bán, vay tài sản là loại tranh chấp dân sự phổ biến nhất hiện nay, nhưng không ít đơn khởi kiện vẫn bị Tòa án trả lại hoặc yêu cầu bổ sung vì thiếu căn cứ pháp lý. Việc khởi kiện không chỉ dừng ở soạn đơn, mà đòi hỏi xác định đúng thời hiệu, thẩm quyền Tòa án và hệ thống hồ sơ, chứng cứ đi kèm. Bài viết phân tích điều kiện, thủ tục và hồ sơ cần chuẩn bị để bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi khởi kiện.

Theo Điều 429 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 (ba) năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Đối với tranh chấp thương mại thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại, Điều 319 Luật Thương mại quy định thời hiệu khởi kiện là 02 năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Cần lưu ý, việc áp dụng thời hiệu không đương nhiên được Tòa án xem xét mà chỉ được áp dụng khi có yêu cầu của một bên hoặc các bên đương sự, với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ban hành bản án, quyết định giải quyết vụ việc (theo khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015).
Theo đó, trường hợp bị đơn không đưa ra yêu cầu áp dụng thời hiệu, Tòa án vẫn có thể xem xét giải quyết vụ việc dù đã hết thời hiệu. Tuy nhiên, đây không phải là căn cứ để chủ thể có quyền trì hoãn việc khởi kiện; việc xác định và thực hiện quyền khởi kiện trong thời hạn luật định vẫn là nguyên tắc cần được tuân thủ nhằm bảo đảm chắc chắn về mặt pháp lý.
Theo nguyên tắc của tố tụng dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình có căn cứ và hợp pháp. Vì vậy, hồ sơ khởi kiện nên được chuẩn bị cùng các tài liệu, chứng cứ tương ứng với quan hệ hợp đồng và yêu cầu khởi kiện.
Tùy từng vụ việc, người khởi kiện có thể cần chuẩn bị:
Theo Điều 466 BLDS 2015, bên vay tài sản là tiền có nghĩa vụ trả đủ tiền khi đến hạn. Trường hợp chậm trả, bên vay phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS 2015, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Hồ sơ khởi kiện yêu cầu giải quyết đối với loại tranh chấp này nên bao gồm
Việc xác định số tiền yêu cầu Tòa án giải quyết cần được thực hiện trên cơ sở từng nghĩa vụ cụ thể và căn cứ pháp lý tương ứng, thay vì chỉ cộng toàn bộ các khoản tiền phát sinh. Đối với hợp đồng vay tài sản, cần ưu tiên áp dụng cơ chế tại Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 để xác định từng khoản lãi.
Theo khoản 1 Điều 468 BLDS 2015, lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay; trường hợp lãi suất theo thỏa thuận không xác định rõ hoặc phát sinh tranh chấp về lãi suất, lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn nêu trên tại thời điểm trả nợ theo khoản 2 Điều 468 BLDS 2015.

Bên cạnh đó, theo Điều 357 BLDS 2015, trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền, bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; mức lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS 2015, trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS 2015.
Việc xác định chính xác số tiền lãi, tiền phạt vi phạm hợp đồng (nếu các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm) có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định giá trị yêu cầu khởi kiện, từ đó là căn cứ để xác định mức tạm ứng án phí phải nộp theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Theo quy định tại Điều 26 BLTTDS 2015, tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục dân sự của Tòa án. Về thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ, căn cứ Điều 39 BLTTDS 2015, về nguyên tắc, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc (đối với bị đơn là cá nhân) hoặc nơi bị đơn có trụ sở (đối với bị đơn là cơ quan, tổ chức), trừ trường hợp các đương sự có thỏa thuận khác được pháp luật thừa nhận hoặc pháp luật có quy định khác.
Việc xác định không đúng thẩm quyền giải quyết là một trong những căn cứ để Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng, dẫn đến việc kéo dài thời gian giải quyết vụ việc.
Theo khoản 1 Điều 189 BLTTDS 2015, người khởi kiện có nghĩa vụ lập đơn khởi kiện đáp ứng các nội dung theo quy định, bao gồm:
Đơn khởi kiện phải được gửi kèm theo tài liệu, chứng cứ hiện có nhằm chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan chưa thể cung cấp đầy đủ, người khởi kiện có nghĩa vụ bổ sung theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
Trên cơ sở các quy định nêu trên, để bảo đảm quyền khởi kiện được thực hiện đầy đủ và hạn chế rủi ro về mặt tố tụng, người khởi kiện cần lưu ý:
Đối với mỗi vụ việc cụ thể, việc áp dụng pháp luật còn phụ thuộc vào nội dung hợp đồng, chủ thể giao kết, quá trình thực hiện nghĩa vụ, hành vi vi phạm và các tài liệu, chứng cứ thực tế. Trường hợp Quý khách hàng đang phát sinh tranh chấp hợp đồng mua bán, vay tài sản hoặc nghĩa vụ thanh toán, Quý khách hàng có thể liên hệ với Luật sư tại Bizlawyer để được rà soát hồ sơ, đánh giá các vấn đề pháp lý trọng yếu và trao đổi về phương án xử lý phù hợp với từng vụ việc.
Trong trường hợp cần hỗ trợ chuyên sâu, Quý khách hàng vui lòng liên hệ:
Luật sư Tư vấn – Tranh tụng: Hoàng Phương Trang
Trân trọng./.